Người anh hùng hai lần được Bác Hồ tặng thưởng Huy hiệu của Người
Ông đưa cho tôi xem 2 tấm Huy hiệu Bác Hồ và nói: Đây là 2 tấm Huy hiệu Bác đã tặng cho tôi đấy. Tấm cũ này là được Bác tặng năm 1955, còn cái này là Bác tặng tôi năm 1965.
Ông sinh năm 1929 ở Hương Sơn, Hà Tĩnh trên mảnh đất có truyền thống yêu nước từ các bậc tiền bối, một vùng đất nghèo khó nhưng hiếu học. Thời Pháp thuộc, cũng như bao gia đình nông dân khác, gia đình ông phải đi làm thuê cuốc mướn, quanh năm lam lũ nhưng cũng không có nổi một bữa no. Nhà đông anh em lại nghèo khó, lúc còn nhỏ ông phải ra đồng mò cua bắt ốc, lớn một chút phải vào rừng kiếm củi bán phụ giúp gia đình.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 làm thay đổi cuộc sống của tầng lớp nhân dân lao động. Năm ấy ông vừa tròn 16 tuổi, nhiệt huyết căng đầy của tuổi thanh niên như trào dâng hòa vào khí thế sục sôi của cuộc sống mới - cuộc sống của người dân được làm chủ đất nước. Ông hăng hái tham gia hoạt động phong trào, được kết nạp vào Đoàn thanh niên cứu quốc và được bầu vào Ban chấp hành Đoàn thanh niên của xã. Năm 1948, ông xung phong vào bộ đội thuộc Đoàn 44 đóng quân tại Thanh Hóa. Sau một thời gian huấn luyện, đơn vị hành quân ra Bắc, sáp nhập vào Đoàn 99 và ít lâu sau ông được điều về Trung đoàn 160 thuộc Sư đoàn 312. Ông đã từng tham gia chiến đấu trong chiến dịch Hòa Bình, Lý Thường Kiệt, Tây Bắc, Thượng Lào và chiến dịch Điện Biên Phủ.
Ông nhớ lại đầu năm 1953, đơn vị ông đóng quân tại Phú Thọ để chỉnh huấn. Khi đợt chỉnh huấn sắp kết thúc, ông nhận được lệnh của cấp trên lên Sư đoàn bộ nhận nhiệm vụ mới. Số cán bộ được triệu tập tất cả là 24 người. Ngay sáng hôm sau, đồng chí Sư đoàn trưởng Lê Trọng Tấn đã gặp gỡ và căn dặn: "Các đồng chí rất vinh dự được lựa chọn về một đơn vị vũ trang đặc biệt. Bởi vậy, các đồng chí phải hết sức cố gắng học tập và rèn luyện, nêu cao trách nhiệm để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao".
Mãi đến khi về đơn vị mới, ông mới biết đó là Tiểu đoàn 600 làm nhiệm vụ bảo vệ Bác Hồ và cơ quan đầu não Trung ương, Chính phủ tại căn cứ địa Tân Trào. Niềm vui sướng của mọi người hiện rõ trên từng khuôn mặt. Ông vui sướng vì giờ đây mỗi ngày sẽ được nhìn thấy Bác, thoả bao ước mơ. Đối với ông đây là một vinh dự thật bất ngờ.
Tiểu đoàn 600 do Bác Hồ đặt tên, quân số gồm 600 CBCS. Lúc đầu Tiểu đoàn phiên chế thành 4 đại đội 32, 33, 34 và 35 sau thành lập thêm Đại đội 36 công binh. Ông được phiên chế về Đại đội 34 do đồng chí Hoàng Hải làm Đại đội trưởng (sau là đồng chí Nguyễn Xuân Giao), đơn vị đóng quân tại Tân Trào với nhiệm vụ là vũ trang tuần tra canh gác bảo vệ các mục tiêu thuộc cơ quan Trung ương Đảng.
Ở đây đến tháng 11 năm 1953 ông cùng một trung đội được cử đi phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ làm nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho các cuộc hành quân, trú quân, vận chuyển vũ khí, khí tài, lương thực, thuốc men phục vụ chiến dịch. Kết thúc chiến dịch, ông được phân công trở lại đơn vị cũ tại Tân Trào, chuẩn bị cho kế hoạch bảo vệ Bác Hồ và cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ về Hà Nội theo đúng chương trình đã định.
Với riêng ông cũng như cán bộ chiến sỹ Tiểu đoàn 600, niềm vinh dự và tự hào là nhiều lần được Bác Hồ đến thăm và căn dặn nhiều điều. Một trong những điều căn dặn ân cần là Bác nói đại ý: Bác cháu ta từng chịu gian khổ trong kháng chiến đã quen nay về Hà Nội địch chiếm đóng lâu năm đầy rẫy những cảnh sống xa hoa trụy lạc nên dễ nảy sinh tư tưởng thèm muốn hưởng thụ. Vì vậy Bác dặn các chú phải vững vàng đừng sa ngã trước "viên đạn bọc đường" của địch... Bác còn giải thích thêm nhiệm vụ trong giai đoạn mới và chỉ bảo những kinh nghiệm khi vào thành phố, nhắc nhở tỉ mỉ cả cách ăn, ở trên nhà gác, cách giao thiệp với quần chúng nhân dân.
Thời gian được bảo vệ Bác và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và cơ quan đầu não Trung ương, Chính phủ ở Thủ đô Hà Nội, ông có điều kiện thường xuyên được gặp Bác và được Bác ân cần dạy bảo. Với ông, có nhiều kỷ niệm trong học tập, chiến đấu và công tác, nhưng kỷ niệm sâu sắc không bao giờ phai mờ trong tâm trí của ông là được Bác tặng Huy hiệu của Người. Một lần vào năm 1955 về thành tích sáng kiến hoàn thành vượt mức kế hoạch đào ao cá tại khu Phủ Chủ tịch. Lần ấy vì quá bận nên khi nghe báo cáo xong, Bác đã gửi ngay tấm Huy hiệu của Người tặng thưởng cho một số cán bộ có sáng kiến trong đó có ông. Ông vô cùng cảm động. Ông nâng niu cầm tấm Huy hiệu mà lòng không khỏi bâng khuâng. Và lần thứ 2 là ngày 21 tháng 12 năm 1965, Trung đoàn 600 tổ chức hội nghị mừng công. Bác đã đến thăm và nói chuyện với hội nghị.
![]() |
| Anh hùng Trần Văn Nhỏ và tác giả đang xem những tư liệu lưu trữ (tháng 8/ 2010). |
Cách nay đã hơn 40 năm nhưng hình ảnh của Bác và quang cảnh hội trường hôm đó như sống dậy trong ký ức ông. "Tôi còn nhớ khi Bác bước vào hội trường, tất cả đại biểu đều đứng dậy đón chào, những tràng vỗ tay vang lên, kéo dài không ngớt, Bác vẫy tay ra hiệu cho mọi người im lặng rồi Bác thân mật nói: "Nghe tin các chú họp hội nghị, Bác thay mặt Trung ương Đảng, Chính phủ đến thăm các chú. Vì công tác thời chiến cần giữ bí mật nên Bác đột kích không báo trước. Các chú bảo vệ dễ lộ lắm, các chú làm công tác bảo vệ nên việc giữ bí mật rất cần". Bác cười, cả hội trường lại vang lên những tiếng vỗ tay reo mừng.
Bác nói tiếp: "Sau đây, Bác góp vài ý kiến. Trong năm qua, các chú có nhiều cố gắng về công tác, học tập, sản xuất, tiết kiệm khá… Các chú cần cố gắng hơn nữa. Các chú phải giữ bí mật, đề cao cảnh giác thật tốt… Các chú phải học tập cho tốt, giữ gìn kỷ luật cho nghiêm, lúc không có địch cũng coi như có địch, lúc có địch cũng coi như không có địch. Bác nói thế là để các chú phải dũng cảm, bình tĩnh, không lộn xộn, vội vàng khi sự việc xảy ra. Đơn vị các chú được ở gần Trung ương, Chính phủ vì vậy các chú phải khiêm tốn, phải gương mẫu hơn các đơn vị khác. Các chú ở đây nắm được tình hình, cần phải học tập để hiểu biết hơn về đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ để giải thích cho đồng bào và anh em khác…".
Nghe Bác nói, chúng tôi, ai cũng cảm thấy mình còn thiếu sót nhiều, còn để Bác chưa hài lòng. Bác ôn tồn nói tiếp: "Nói chung các chú đều cố gắng cả, bây giờ Bác thưởng Huy hiệu cho các chú nào tốt nhất, ít thì mới quý, chứ cho tất cả mọi người thì không quý. Bây giờ Bác lấy ý kiến dân chủ, nếu các chú tán thành thì Bác sẽ thưởng". Bác nhìn khắp hội trường rồi gọi: "Chú Lập, tiểu đội trưởng nuôi quân đâu? Các chú có đồng ý không?". "Thưa Bác đồng ý ạ!". Chúng tôi sung sướng đồng thanh đáp.
Bác lại gọi tiếp: "Chú
Cuối cùng, Bác cười vui và nói: "Hôm nay là ngày hội gì? Không phải đại hội, cũng không phải tiểu hội, mà là Hội nghị mừng công. Bác chúc Hội nghị mừng công của các chú thành công tốt đẹp và sau này càng tiến bộ hơn nữa". Bác chào hội nghị và ra về cũng nhanh như lúc Bác đến. Chúng tôi chưa kịp bình tĩnh lại sau niềm vui bất ngờ về tình cảm và sự quan tâm của Bác, trong lòng lâng lâng niềm vui khó tả".
Những ngày đầu tháng Tám này, ngồi kể lại câu chuyện về những tháng ngày không thể nào quên năm ấy, trong đôi mắt ông ánh lên niềm tự hào và nỗi bâng khuâng khi nói về Bác. Tôi hiểu, ông và những người chiến sỹ Cảnh vệ năm xưa mãi mãi không bao giờ phai mờ được những kỷ niệm sâu sắc mà không phải ai cũng vinh dự có được - đó là những tháng năm được gần Bác. Ông kiêu hãnh mang theo niềm tự hào ấy vào trong nhiệm vụ học tập, công tác. Ông tự răn mình phải thực sự cố gắng để xứng đáng với tình cảm và sự dạy bảo của Bác.
Vinh dự và tự hào, ông được đồng đội bầu là Chiến sỹ quyết thắng, Chiến sỹ thi đua, Chiến sỹ thi đua ái quốc liên tục 12 năm (1954 - 1965), được tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba, hai Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng Nhì và hạng Ba. Và niềm vinh dự lớn lao đến với ông là ngày 1/1/1967 ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân

