Chiến dịch tết Mậu Thân năm 68 và ký ức của người trong cuộc

Thứ Sáu, 16/02/2007, 09:11
Là một người có 11 năm gắn bó với chiến trường miền Nam chống Mỹ, đồng chí Nguyễn Tài (tức Tư Trọng), nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ, nguyên Trưởng ban An ninh Sài Gòn - Gia Định vui vẻ kể lại những kỉ niệm của mình trong chiến dịch Mậu Thân năm 68.

Mặc dù ở độ tuổi xấp xỉ tám mươi, bị chi phối bởi quy luật về thời gian và tuổi tác, sự vất vả, gian nan trên trận tuyến an ninh nhưng đồng chí vẫn giữ được nếp sống lạc quan và tự tin.

Theo đề nghị của chúng tôi, đồng chí đã vui vẻ kể lại những công việc thầm lặng và anh hùng của các chiến sĩ An ninh Sài Gòn - Gia Định trong đợt Tổng tấn công và nổi dậy ở mặt trận Sài Gòn vào mùa xuân Mậu Thân 1968. Vẫn giọng khiêm nhường và trầm tĩnh, đồng chí kể:

Ngày ấy, căn cứ Khu ủy Sài Gòn - Gia Định cũng như Ban An ninh T4 (biệt danh của Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định) đóng tại khu vực 10 xã phía Bắc huyện Củ Chi (TP Hồ Chí Minh bây giờ). Sau chiến thắng của ta ở Bình Giã, cuộc chiến tranh đặc biệt của Mỹ - chính quyền Sài Gòn, trên thực tế đã bị phá sản; buộc đế quốc Mỹ phải đưa quân Mỹ trực tiếp thực hiện cuộc chiến tranh cục bộ ở miền Nam năm 1965.

Chúng coi khu vực Bến Cát và Củ Chi ở hai bên sông Sài Gòn là “khu tam giác sắt”. Do vậy, chúng đã cắm chốt Sư đoàn 1, biệt danh là “Anh cả đỏ” ở khu vực Bến Cát – Bình Dương và Sư đoàn 25 (tức Tia chớp nhiệt đới) ở Củ Chi nhằm bảo vệ Sài Gòn và đánh phá các vùng giải phóng của ta ở 2 khu vực này.

Ban chỉ Huy An ninh vũ trang Bến Tre nghiên cứu bàn phương án chiến đấu chống địch lấn chiếm vùng giải phóng.

Mùa thu năm 1967, Khu ủy Sài Gòn - Gia Định mở cuộc họp, để đảm bảo an toàn, theo ý kiến của Trung ương Cục, đã phải chuyển địa điểm cuộc họp về vùng căn cứ của Trung ương Cục miền Nam. Anh Nguyễn Văn Vịnh, phái viên của Bộ Chính trị đã đến dự và truyền đạt nhận định của Bộ Chính trị.

Theo đó, nếu mùa khô năm nay, địch không còn phản công chiến lược được nữa thì chúng ta sẽ chủ động tấn công, đánh thẳng vào các đô thị, mà trung tâm là Sài Gòn, có thể vào đầu năm 1968. Nghe anh Vịnh phổ biến chủ trương của Bộ Chính trị, các đồng chí trong Khu ủy đều rất phấn khởi, bởi vì ai cũng chỉ chờ mong ngày ấy đến.

Sau cuộc họp đó, tôi trở lại Củ Chi để tổ chức thực hiện các công việc thuộc phạm vi ngành An ninh; cùng lúc quân Mỹ tổ chức càn và ủi sạch trơn nhà cửa, cây cối 10 xã giải phóng ở Bắc Củ Chi. Chúng làm liên tục mấy tháng liền, kết quả chỉ còn là bình địa.

Theo sự chỉ đạo của Khu ủy thì nhiệm vụ của các chiến sĩ An ninh Sài Gòn - Gia Định trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy đầu xuân năm 1968, là phải diệt bọn ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân, nhất là bọn đầu sỏ, nhằm hỗ trợ cho quần chúng nhân dân nổi dậy. Song căn cứ ở Củ Chi, lúc này thấy không đảm bảo an toàn nên chúng tôi phải tạm di chuyển đến mấy xã giáp sông Vàm Cỏ, thuộc huyện Đức Hoà, tỉnh Long An.

Trước Tết vài ngày, chúng tôi nhận được mệnh lệnh của cấp trên về ngày giờ cụ thể của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy ở Sài Gòn là đêm mùng 1 Tết. Tôi đã triệu tập các đồng chí chủ chốt các đơn vị An ninh từ nội thành Sài Gòn về xã An Ninh (giáp bờ sông Vàm Cỏ Đông) để truyền đạt mệnh lệnh.

Tối 29 Tết, anh em quây quần trong một căn nhà lá, dưới lá cờ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và ánh đèn dầu, chúng tôi làm lễ đọc lời hiệu triệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam về Tổng tấn công nổi dậy.

Hầu như tất cả mọi người tham dự, khi nghe lời hiệu triệu, đều xúc động rơi nước mắt. Thay mặt lãnh đạo Ban An ninh T4, tôi bày tỏ quyết tâm hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Cả đêm hôm đó, mọi người đều không ai ngủ được và chỉ mong trời sáng để kịp trở về đơn vị của mình ở nội thành.

Trưa 30 Tết năm ấy, tôi sử dụng giấy tờ giả và được một cơ sở dùng xe gắn máy đưa vào nội thành Sài Gòn. Lúc đầu tôi ở tại một gia đình cơ sở khu vực Bình Thới. Gia đình đã chuẩn bị cơm Tết đón tôi, nhưng đâu còn bụng dạ nào ngồi để ăn uống. Tôi dành thời gian đi gặp gỡ các cán bộ chủ chốt các đơn vị thuộc An ninh T4, kiểm tra công tác chuẩn bị.

Qua kiểm tra, tôi thấy lúc đó có đơn vị đã nhận đủ vũ khí; có đơn vị do gặp trục trặc trong việc giao nhận nên chưa nhận đủ. Thấy một số anh em băn khoăn, tôi đã nói: Vũ khí có bao nhiêu, có loại gì thì cứ sử dụng để làm nhiệm vụ.

Đêm 30 Tết năm ấy ở Sài Gòn bao trùm không khí Tết ngừng bắn nên quân đội Sài Gòn dường như rất lơi lỏng. Nhưng đến sáng mồng một Tết, qua các tin tức do đài phát thanh nước ngoài đưa tin thì được biết ta đã nổ súng tấn công vào thành phố Huế nên đến tối mồng một Tết, khi đi xem lại tình hình, tôi đã phát hiện trên các đường phố, địch rải quân từng đoạn, từng đoạn.

Còn binh lính đã chụm súng ở trên các hè phố. Ở các khu vực quan trọng, chúng tăng cường phòng thủ. Để tiện cho việc chỉ đạo, anh em lại đưa tôi đến một gia đình cơ sở ở phường Khánh Hội. Gần nửa đêm mồng một Tết, tôi mở đài thu thanh để thường trực theo dõi tình hình.

Vì Đài Phát thanh Sài Gòn phát liên tục 24/24 giờ; và cứ vào đầu mỗi giờ, sau phần điểm giờ là phát một vài tin tức rồi đến chương trình ca nhạc. Khi đến giờ nổ súng, tôi thấy sau phần báo giờ chỉ là những âm thanh sè sè… không có cả việc phát tin.

Như vậy, theo kế hoạch chung đã được biết trước, tôi phán đoán đơn vị biệt động thành được phân công đã chiếm xong Đài phát thanh. Nhưng chờ ít phút sau vẫn không thấy phát đi lời hiệu triệu của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam, tôi nghĩ có việc trở ngại ở đây.

Cũng từ khu vực Khánh Hội, tôi nghe hướng Dinh Độc lập có tiếng súng nhỏ nổ, nhưng không rõ tin tức ra sao? Mãi đến sáng mùng 2 Tết, qua các đài phát thanh nước ngoài, tôi được biết biệt động của ta đã tấn công vào Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn và đã chiến đấu rất oanh liệt; vào được Đài Phát thanh Sài Gòn nhưng không thực hiện được kế hoạch đã định.

Các chiến sĩ An ninh Sài Gòn - Gia Định bảo vệ cán bộ Thành Uỷ từ căn cứ về hoạt động.

Qua giao liên, tôi nhận được báo cáo từ các đơn vị An ninh T4. Tại nhà riêng của Đại sứ Mỹ Bân-cơ, chúng đã tăng cường phòng thủ nhiều phía, nên các chiến sĩ ta vẫn không đột nhập vào được. Còn Nguyễn Văn Thiệu thì đi ăn Tết tại TP Mỹ Tho, không ở Sài Gòn.

Ngoài việc diệt ác ở nhiều khu vực trong thành phố, cảnh cáo những tên tay chân có nợ máu với nhân dân, tiểu đội vũ trang của An ninh T4 làm nhiệm vụ dẫn đường cho một tiểu đoàn bộ đội chủ lực của ta có nhiệm vụ từ phía Nam Sài Gòn đánh vào Tổng nha Cảnh sát đã gặp sự đề kháng quyết liệt của địch.

Sau này tôi được biết, trong cuộc chiến đấu ấy, tiểu đội vũ trang An ninh T4 đã hy sinh gần hết. Một số đồng chí khác bị thương nặng đã bị địch bắt làm tù binh. Một đơn vị An ninh vũ trang khác làm nhiệm vụ bảo vệ Ban chỉ huy tiền phương 2 ở phía Nam Sài Gòn cũng chiến đấu rất dũng cảm để bảo vệ an toàn cho Ban chỉ huy.

Sau đợt 1 của cuộc Tổng tấn công và nổi dậy, chỉ đạo của cấp trên là tiếp tục mở các đợt tấn công khác vào các đô thị. Các chiến sĩ An ninh T4 vừa khắc phục những khó khăn do sự kiểm soát ngặt nghèo của địch để trụ bám và xây dựng thêm cơ sở tại nội thành, vừa tiếp tục chuyển vũ khí vào các nơi cất giấu.

Dũng cảm và mưu trí, các chiến sĩ An ninh T4 đã lập thêm nhiều chiến công gây tiếng vang lớn trong thành phố như: Vụ dùng lựu đạn mở và lựu đạn cháy tấn công tên Thiếu tướng Kiểm, Tham mưu trưởng Biệt Bộ phủ Tổng thống chính quyền Sài Gòn; vụ tấn công xe hơi có hộ tống của Thủ tướng chính quyền Sài Gòn Trần Văn Hương ở ngay trong khu vực mà địch coi là an toàn nhất; vụ nổ mìn tại bãi xe ngay Tổng nha Cảnh sát chính quyền Sài Gòn vào lúc tan giờ làm việc; vụ nổ mìn tại rạp Quốc Thanh là nơi bọn cảnh sát và mật vụ chính quyền Sài Gòn tụ tập chơi bời.

Chưa kể đến hoạt động điệp báo đã thu được nhiều tin tức quan trọng, và có một số cơ sở có tác dụng tốt cho đến tận 30/4/1975, trong các chiến công vang dội cũng như thầm lặng đó, không thể quên sự đóng góp không nhỏ của các chiến sĩ nữ giao liên, từ các bà, các chị, đến các cháu thanh nữ ở tuổi 15-16.

Nhiều nữ giao liên bị địch bắt và tra tấn dã man nhưng vẫn giữ vững bí mật và khí tiết cách mạng. Trong số họ, có một số đã hy sinh, một số đến nay vẫn còn mang dấu tích hậu quả của các cuộc tra tấn, nhục hình của địch.

Gần 40 năm trôi qua, các chiến sĩ An ninh T4 ngày ấy đã tham gia cuộc Tổng tấn công và nổi dậy, nhiều đồng chí mãi mãi yên nghỉ dưới nấm mồ, như các anh Năm Tấn (Phó ban An ninh T4), Năm Phụng, Năm Mai, Tám Phong (Ủy viên Ban) và cùng nhiều đồng chí khác mà không thể một lúc kể hết tên được.

Có những đồng chí đến nay còn sống và còn công tác như Chín Cường, Năm Thu, Út Cạn… và còn có những đồng chí do chịu đựng tù đày, đến nay sức khoẻ đã giảm sút, được Đảng và lực lượng Công an cho nghỉ hưu nhưng họ vẫn giữ được ý chí cách mạng. Mỗi người ở mỗi nơi xa nhau nhưng họ không bao giờ quên nhắc đến những người đồng chí, đồng đội thân thương đã không có may mắn thấy được ngày toàn thắng của dân tộc Việt Nam ta. Và mỗi khi có dịp gặp lại, họ lại cùng nhau ôn lại những kỷ niệm của mùa xuân ấy – mùa xuân tấn công và nổi dậy

.
.