Georges Boudarel và “giấc mơ Đông Dương”

Thứ Bảy, 28/12/2019, 11:50
Một trong những lời tự biện hộ của Georges Boudarel vẫn được nhắc tới. Đó là buổi trao đổi trong chương trình “Quyền được biết” trên sóng truyền hình Pháp TF1 năm 1992.

Ông kết luận những trình bày của mình như sau: "Tôi nghĩ tôi không phải chịu trách nhiệm. Và tôi nghĩ rằng những người phải chịu trách nhiệm về tình hình này (những tội ác đối với tù binh và rắc rối hậu chiến…) là những kẻ gây ra cuộc chiến tranh này". Đó là cuộc chiến tranh tái xâm lược Việt Nam và Đông Dương, 1946-1954, mục đích sâu xa là lợi ích vật chất cho các ông trùm tư sản, dưới nhãn hiệu "lấy lại danh dự cho nước Pháp (!)"…

Người chiến binh Cộng sản

Trong nhiều người nước ngoài tham gia cuộc chiến đấu cho độc lập tự do của nhân dân Việt Nam, Georges Boudarel (1926-2003), nhà trí thức Pháp xuất thân công nông, là một trường hợp đặc biệt. Ông nội ông, một công nhân gang thép, phải bỏ việc sau một tai nạn lao động quá nặng. 

Cha ông buộc phải nghỉ học trường dòng, để kiếm sống cho gia đình. Cha cố gắng học được nghề kế toán, vào làm việc cho một khu mỏ. Khi sinh ông, mẹ ông bị một bệnh lạ, sau liệt nửa người, sinh ra trầm uất. Noi gương cha, ông nỗ lực học tập, định sẽ thành giáo sỹ. Ngay trong Thế chiến II, ông từ bỏ dự định ấy, chuyển sang học Triết học.

Để có tiền ăn học, ông làm bảo vệ cho các quán cà phê, nhà hàng. Tham gia phong trào Thanh niên cộng sản, ông đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp. 

Georges Boudarel ở Trại tù binh 113.

Ông biết rõ rằng nước Pháp có nhiều duyên nợ với Đông Dương. Triết học thôi thúc ông thử tìm lời giải cho duyên nợ này. Như một cách tìm lối thoát cho thế giới bấy giờ chìm đắm vào chủ nghĩa thực dân, với nhiều nhức nhối không chỉ cho những đất nước bị biến thành thuộc địa, Đông Dương trở nên giấc mơ tuổi trẻ náo nức của ông.

Đầu năm 1948, ông tìm cách để được sang Đông Dương. Tham vấn văn phòng Đông Dương của Đảng, ông được khuyên giấu kín việc là đảng viên, không mang theo thẻ Đảng. Văn phòng cấp cho ông một thư giới thiệu ông với trưởng nhóm văn hóa mác xít Pháp đang hoạt động ở Sài Gòn. Thế là ông được vào dạy Triết học ở trường trung học Yersin, Đà Lạt.

Mùa thu 1949, ông được thuyên chuyển tới một trường tương tự mới mở ở Viên Chăn, Lào. Ba tháng sau, do bị nghi kị là Cộng sản, ông bị trục xuất. Ông về Sài Gòn, được nhận làm giáo viên tiếng Pháp cho trường nữ sinh Marie Curie. Ông thường xuyên lui tới với Nhóm văn hóa cộng sản Pháp. 

Cảnh Hà Nội xưa, ảnh do Georges Boudarel sưu tầm.

Cuối năm 1950, ông xin thôi giảng dạy, để đến với hàng ngũ Việt Minh. Ông lấy biệt danh tiếng Việt là Đại Đồng. Cùng lúc đó, quân đội Pháp yêu cầu ông thực hiện nghĩa vụ quân sự. Ông không có mặt, nên bị tuyên một năm tù về tội không tuân lệnh. Tiếp đó, tòa án quân sự Sài Gòn tuyên tử hình ông vắng mặt về tội đào ngũ.

Do thành thạo kỹ thuật phát thanh, ông được cử thành lập và biên tập chương trình phát thanh bằng tiếng Pháp của Đài tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do, hoạt động bí mật ở một khúc quanh sông Bé, nước chảy ào ạt. Làm việc ở đây 18 tháng, giữa năm 1952, ông được chỉ định ra chiến đấu ở Bắc Kỳ. Ông cùng 40 người nữa đi bộ hết chặng này tới chặng khác. 

Len lỏi giữa rừng sâu, suối ngập, đường sá cát sỏi, lên thác xuống ghềnh. Ăn uống xa lạ và kham khổ, ông không hề khó chịu mà luôn vui vẻ. Sáu tháng sau, đoàn tới An toàn khu. Tại đây, ông được truyền thụ mục đích, phương pháp giúp đỡ tù binh Pháp nhận rõ chính nghĩa và phi nghĩa của cuộc đụng đầu Pháp - Việt bấy giờ.

Ông được phân công giảng dạy chính trị cho các tù binh ấy ở trại 113, ở một vùng khí hậu khắc nghiệt. Vũ khí của ông là chủ nghĩa Mác Lê-nin, phong trào Cộng sản quốc tế… mà ông thấu hiểu nhuần nhuyễn. Ông dần dần chuyển hóa phần lớn tù binh, chủ yếu là sỹ quan, nhiều quốc tịch, phần lớn là Pháp và châu Phi, thành những chiến sỹ hòa bình. 

Có điều, việc cung cấp lương thực thực phẩm thuốc men cho trại là cực kỳ khó khăn. Ấy là do phải vận chuyển bằng đường bộ, qua nhiều lô cốt Pháp án ngữ. Thiếu thốn là không tránh khỏi. Nước ăn uống bị ô nhiễm. Các bệnh, như sốt rét, tả, thương hàn, kiết lỵ hoành hành liên tục. Một số tù binh bị thương quá nặng. Số người chết cứ thế tăng lên.

Đầu năm 1954, một số tù binh được trả tự do và được trao đổi với phía Pháp, (để nhận về tù binh người Việt). Việc đưa số tù binh này đi do Georges Boudarel đảm nhiệm. Không có gì đáng tiếc. Trại 113 đóng cửa. Số tù binh còn lại được chuyển sang trại 112. Ông về lại an toàn khu Việt Bắc, được điều động về chương trình tiếng Pháp của Đài tiếng nói Cách mạng.

Trong suốt chiến dịch Điện Biên Phủ, ông kịp thời phát đi những tin tức chiến sự sốt dẻo. Với nhiều bình luận ngắn gọn sắc sảo. Tiếng nói đó giúp nhân dân Pháp và thế giới hiểu rõ thực chất chiến thắng tất yếu của quân dân Việt Nam và thất bại cũng tất yếu của quân xâm lược. Nó góp phần vào việc ký kết hiệp định Geneve, lập lại hòa bình ở miền Bắc.

Tiếp truyền tiếng nói chính nghĩa

Sau hiệp định Geneve, ông về Hà Nội. Công việc chính của ông là phát thanh - trên cương vị thư ký chương trình tiếng Pháp của Đài tiếng nói Việt Nam. Theo đề nghị của Nhà xuất bản ngoại văn Việt Nam, tiền thân của Nhà xuất bản thế giới bây giờ, ông nhiệt tình dịch sang tiếng Pháp nhiều tác phẩm chính trị và văn học quan trọng của nước này. Nổi bật là các tác phẩm của Phan Bội Châu, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng.

Bên cạnh hai việc trên, ông giảng dạy tiếng Pháp cho cán bộ nhân viên đại sứ quán các nước Xã hội chủ nghĩa. Nhiều người trong số này vẫn giữ những kỷ niệm ấm lòng về ông và tri ân ông mãi.

Học giả Georges Boudarel ở Paris.

Năm 1964, ông cùng vợ, người Việt, và con gái, sang Prague, thủ đô nước Tiệp Khắc cũ. Ấy là theo yêu cầu của Liên hiệp Công đoàn thế giới. Ở đó, qua tiếng Pháp, ông phát ngôn cho tâm tư nguyện vọng của thợ thuyền và người lao động toàn cầu. Một người như ông không thể không nặng lòng với quê cha đất tổ. Những năm tươi đẹp nhất cuộc đời, ông đã cống hiến cho nhân dân Việt Nam. Xa quê đã gần hai mươi năm, ông nghĩ tới chuyện quay về, phụng sự Đất mẹ.

Năm 1966, từ đấu tranh quyết liệt của các nghị sỹ cộng sản, quốc hội Pháp thông qua luật ân xá dành cho những người Pháp "chống lại nước Pháp" ở bên kia chiến tuyến tại Đông Dương và Algerie. Nghĩa là những lỗi lầm và tội ác của họ được vĩnh viễn miễn thứ. Thế là Georges Boudarel bình tĩnh trở về. Một đôi chiến sỹ trong Nhóm văn hóa mác xít Sài Gòn xưa mời ông làm việc trong một trường đại học.

Năm 1969, luận văn về Phan Bội Châu của ông được đánh giá rất cao, ông đỗ tiến sỹ và trở thành giáo sư đại học. Ông cùng vài đồng sự lập ra Khoa sử địa xã hội học ở trường đó. Vừa chuyên chú vào nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Việt Nam, ông vừa viết nhiều mục cho từ điển bách khoa Pháp Encyclopaedia Universalis, vừa cộng tác say mê với nhiều tạp chí và tham gia nhiều công trình khoa học tập thể. 

Riêng mảng sách về Việt Nam của ông, công chúng không chỉ ở Pháp hiện vẫn đọc nhiều hai bộ Truyền thống và cách mạng ở Việt Nam, 1971 và Giáp - tức Đại tướng Võ Nguyên Giáp - 1977.

Niềm vui cống hiến cho đất nước ngày một dâng trào. Đầu năm 1991, trong một hội thảo về Việt Nam ở thượng viện, một sỹ quan cựu tù Đông Dương về sau là bộ trưởng, nhận ra ông, thóa mạ ông cay nghiệt trước mắt các nghị sỹ. 

Tiếp theo, một số cựu tù binh ở Việt Nam viết đơn kiện ông về tội phản quốc và chống lại nhân loại. Bằng chứng họ dựng lên là ở trại 113, Boudarel đã tra tấn, nhục hình, bỏ đói hay không chữa bệnh… cho tù binh đồng hương. Ông bị quy là đã gây ra nhiều cái chết oan uổng cho họ.

Cây ngay chẳng sợ chết đứng

Ông đã viết tự truyện để nói rõ sự chính trực, trong sáng và nhân ái của mình. Nhiều học giả, nhà văn, nhà báo, người dân... lên tiếng bảo vệ ông. Một người tù từng sống với Boudarel ở Trại 113 kể lại nhiều kỷ niệm đẹp: ông luôn vui vẻ, hòa nhã, thích chính trị, nhưng cũng mê văn thơ, hay trò chuyện với người tù… Có người khẳng định chưa thấy hay chưa nghe tù binh nào bị Boudarel đánh đập hay chửi mắng. Không ít lập luận đanh thép được công chúng tán thưởng.

Một bức tranh phố cổ Hà Nội mà Bùi Xuân Phái tặng Georges Boudarel.

Ví dụ, nếu cứ truy tố Boudarel, thì đáng bị truy tố nhiều lần hơn là các tướng lĩnh Pháp. Những vị này phải chịu trách nhiệm về những tổn thương mất mát của lính thường… Một sự thật từ hồi ký của Boudarel được hoan hỉ chúc mừng: ở Việt Nam thời ấy, không bao giờ có chuyện một người nước ngoài được làm thủ trưởng một cơ quan hay tổ chức nào, như ông bị vu cáo là trưởng trại 113, nên tha hồ tàn độc với tù binh, khi thích…

Vị bộ trưởng kể trên lá mặt lá trái: trước đây ca ngợi và biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh bao dung, nên ông ta và đồng đội mới được về với gia đình; nay phỉ báng Boudarel làm tay sai cho kẻ thù mọi rợ... Ô hay, nếu họ mọi rợ, họ chỉ việc giết quách tù binh Pháp, làm gì phải vất vả nuôi nấng, chữa trị, hồi phục lòng nhân và tính thiện, chờ dịp trả họ về với tổ ấm nơi xa? Dư luận, tức báo chí Pháp, chia thành hai phe xung quanh vụ Boudarel đã đi vào lịch sử. Giữa bão dư luận ấy, các cơ quan pháp luật ứng xử thế nào?

Nhận được đơn kiện của nhóm cựu tù Việt Nam, một số  viên chức pháp luật cao cấp chủ trương mở cuộc điều tra, để xem xét kết tội. Số khác thúc ép tòa án đưa ra xét xử công khai để yên bề dư luận. Cuối năm 1991, tòa án thượng thẩm tuyên bố miễn tố nhà khoa học Georges Boudarel, căn cứ vào luật ân xá 1966. Nguyên đơn không chịu.

Tháng ba năm 1993, tòa phá án lặp lại kết luận trên. Nguyên đơn tiếp tục kháng án. Năm 1998, tòa này chính thức bác bỏ đơn kiện, tuyên bố Georges không thể bị xét xử. Vụ án khép lại. Song, một vụ án khác nổ ra. Đó là Georges Boudarel kiện nguyên đơn vu khống mình. Nguyên đơn kiện ngược ông với tội tương tự. Nhùng nhằng nhiều năm, các đơn kiện bị trả lại, năm 2003. Chuyện buồn chấm dứt vĩnh viễn. Đến nay, không ít người vẫn kinh ngạc về vụ việc có phần khác lạ ở xứ sở được coi là văn minh bậc nhất.

Từ giữa năm 1966, luật ân xá, do Tướng Charles de Gaulle ký, đã được ban hành. Bộ luật ấy được không những nhân dân Pháp mà cả nhiều nước khác hoan nghênh nồng nhiệt. Nó có lý có tình, vừa nhân văn vừa khoa học. Hành xử đúng đắn nhất trong thế giới hiện tại là tránh đối đầu, xóa bỏ hận thù, tôn trọng khác biệt, chung sống bình đẳng, khép lại quá khứ, tập trung cho hiện tại và hướng tới tương lai. Tinh thần ấy của luật dường như bị xao lãng…

Thế nên, một trong những lời tự biện hộ của Georges Boudarel vẫn được nhắc tới. Đó là buổi trao đổi trong chương trình “Quyền được biết” trên sóng truyền hình Pháp TF1 năm 1992. 

Ông kết luận những trình bày của mình như sau: "Tôi nghĩ tôi không phải chịu trách nhiệm. Và tôi nghĩ rằng những người phải chịu trách nhiệm về tình hình này (những tội ác đối với tù binh và rắc rối hậu chiến…) là những kẻ gây ra cuộc chiến tranh này". Đó là cuộc chiến tranh tái xâm lược Việt Nam và Đông Dương, 1946-1954, mục đích sâu xa là lợi ích vật chất cho các ông trùm tư sản, dưới nhãn hiệu "lấy lại danh dự cho nước Pháp (!)"…

Đàm Nhi Linh
.
.
.