Nài ngựa lụy chiến mã
Trang trại ngựa của nài Tông nằm giữa khoảng xanh bao la của cánh đồng dừa nước, cỏ lau và hoa dại thuộc xã Bình Chánh (TP Hồ Chí Minh). Nơi đây khuất xa phố thị ồn ào, như một ốc đảo dành riêng cho những giống chiến mã từng tung hoành ở Trường đua Phú Thọ được chăm sóc, yêu thương và tiếp tục cuộc sống để gìn giữ phần hồn đẹp đẽ của một thời vang bóng...
Người xà ích và chiếc xe thổ mộ
Nắng gió nơi thao trường huấn luyện ngựa đã làm nước da của nài Tông (huấn luyện) ngăm đen cùng với khuôn mặt rám vàng đầy nội lực. Đó là đặc điểm khiến tôi dễ dàng nhận ra anh, người nuôi chiến mã Lê Tiến Tông (48 tuổi). Ở đây, người ta vẫn quen gọi là nài Tông bởi gần như cả cuộc đời, anh đã gắn bó với ngựa.
Lê Tiến Tông sinh ra ở quận 8 (cũ), nay là phường Bình Đông, TP Hồ Chí Minh, nơi từng là cái nôi của nhiều tay nài nổi danh. Tuổi thơ của anh gắn liền với tiếng vó ngựa lóc cóc trên đường đất và hình ảnh chiếc xe thổ mộ cót két của ông ngoại, một người xà ích lâu năm vùng Bà Hom (quận 6 cũ). Tiếng roi ngựa quất vào gió của ông ngoại, rồi đến những buổi theo cậu Năm ra Trường đua Phú Thọ nhìn những chú ngựa chiến lao mình về đích, đó là ký ức thẩm thấu vào máu thịt của Lê Tiến Tông, khiến người ta dễ dàng nhận ra một thứ tình cảm không còn đơn thuần là yêu nghề mà là sự gắn bó, là tri kỷ của một người có mối lương duyên với ngựa ngay từ thuở ban đầu.
Nhìn xa xăm vào khoảng trời trong veo trước mặt, nài Tông kể: “Tôi làm quen với ngựa từ năm lên 9 tuổi, năm 13 tuổi tôi đã trên lưng ngựa rồi, tôi cưỡi và chinh chiến cùng ngựa dọc ngang phố xá Sài Gòn và tham gia những cuộc đua chiến mã sôi nổi của trường đua Phú Thọ”. Từ năm 1989 đến năm 1993, Lê Tiến Tông là một trong những nài ngựa trẻ tuổi đầy triển vọng ở trường đua Phú Thọ, cái nôi sản sinh ra nhiều tay đua huyền thoại của miền Nam.
Trong ký ức của nài Tông, để trở thành một nài ngựa, anh cùng các cậu bé chừng 12 tuổi trở lên sẽ dậy từ sớm, dắt ngựa đi dượt mấy quãng đồng cho ngựa quen. Sau đó lên lưng ngựa tập thúc hông, giựt cương, tăng tốc… nhanh nhất thì khoảng hai tháng là có thể ra đường đua. Không chỉ vậy, nài còn phải ép cân để đảm bảo trọng lượng không quá 35 kg vì ngựa đua ở Phú Thọ thập niên đầu 1990 là ngựa cỏ nhỏ con (chiều cao lưng dưới 1,4m, khoảng 250 kg) không chịu nổi nài quá nặng.
Những cú ngã thót tim, những lần rượt đuổi sát nút, những chiến thắng nghẹt thở… và rồi bất tỉnh, gãy xương vai, băng bột… đều là bình thường của một nài ngựa chuyên nghiệp. Dẫu là môn thể thao mạnh mẽ, mạo hiểm và đầy rủi ro như thế thì nài Tông chưa bao giờ có ý nghĩ từ bỏ.
Tuy nhiên, sóng gió lớn nhất đến với nài Tông vào năm 2011, khi Trường đua Phú Thọ chính thức ngưng hoạt động. Cả cộng đồng đua ngựa lâm vào khủng hoảng. Người bán ngựa, người giết thịt, có những chiến mã vang danh một thuở, từng giật nhiều giải cao cũng trở thành món ăn trên bàn nhậu.
Với nài Tông, đó là một cú sốc lớn, không chỉ bởi niềm đam mê bị dập tắt mà còn vì anh không biết phải làm gì với 11 con ngựa của mình. Anh bắt đầu xoay xở bằng nhiều nghề từ chạy xe, buôn bán, làm hàng ở chợ đầu mối Bình Điền để kiếm tiền nuôi ngựa. Mỗi ngày những chú ngựa trưởng thành ăn tới 5 kg gồm cả lúa, cỏ và thức ăn. Ước tính một tháng chi phí duy trì đàn ngựa là rất lớn, vượt xa khả năng của gia đình.
“Có nhiều lúc cũng buồn lắm, tôi hết sạch tiền mua đồ ăn cho ngựa. Lúc đó đi vay mượn khắp nơi, mình thà nhịn đói chứ không cho ngựa nhịn được, chúng rất cơ bắp, bỏ ăn vài cữ thôi là suy liền, nhìn rất đau xót”, anh Tông trầm ngâm nhớ lại giai đoạn khó khăn.
Có người khuyên anh nên bán đi vài con cho nhẹ gánh, nhưng anh lắc đầu vì từ lâu anh đã xem ngựa như con mình, nuôi nó từ nhỏ, hiểu tính cách từng con một, sao mà bán nổi. Sau nhiều năm bươn chải, thấy tình hình ổn hơn, anh Tông quyết định mở trang trại, biến đam mê thành công việc, vừa có thu nhập, vừa không rời xa những con vật mà anh xem như người thân.
Anh giữ giống từ thời Phú Thọ đến bây giờ chứ không lai giống ngựa Thái, ngựa Miên, rồi nhân giống ra để giữ lại giống ngựa đua hồi xưa. Hiện trang trại của anh Tông có 40 con ngựa, thuộc 4 giống: Anh, Pháp, Úc và Ảrập. Mỗi loài có một đặc điểm riêng, từ hình thể đến tính cách, nhưng tất cả đều được chăm sóc kỹ lưỡng, ăn uống đủ bữa, tắm rửa đều đặn và có khu tập luyện riêng.
Lưu giữ miền ký ức
Công việc nuôi, chăm sóc và huấn luyện ngựa đòi hỏi con người phải có bản tính chịu đựng, kiên trì, phải chịu được thương tật và tai nạn bởi sẽ thường xuyên bị ngựa giẫm vào chân, bị cắn, bị đá, bị ngã trong lúc cưỡi dẫn đến chấn thương phần mềm, gãy tay, chân… Thế nhưng khi đã quen, những con ngựa cũng gần gũi và như hiểu được tình cảm, cảm xúc của người nuôi.
“Bây giờ mỗi khi tôi đi xa vài ngày trở về, vừa đến trang trại, nghe tiếng tôi là chúng chộn rộn. Có con chỉ cần tôi đến gần là chạy lại, dúi đầu về phía trước để tôi vuốt ve trán, sống mũi. Có những con ngựa cảm thấy bất an, nổi giận khi có sự xuất hiện của một con khác hoặc người lạ. Nhưng chỉ cần tôi đến gần, chúng sẽ bình tâm lại. Có con rất cứng đầu, nhưng khi bị tôi la, phạt thì trở nên hiền hơn, ngoan hơn...”, anh Tông kể về tình cảm của ngựa với người nuôi.
Ngoài huấn luyện ngựa, anh Tông còn là “bà đỡ” cho hành trình vượt cạn của những chú chiến mã. Mỗi khi ngựa cái có thai, anh túc trực thăm khám và chính anh đỡ đẻ, cắt dây rốn cho những chú ngựa con ra đời. Khi ngựa con được 18 tháng, cam go nhất mới bắt đầu, đó là thời điểm anh Tông huấn luyện ngựa liên tục một tháng.
“Có con tôi nói nhẹ nhàng sẽ hiểu, có con phải thúc vào hông, có con giật cương mạnh. Mình phải hiểu từng con ngựa ở đây để biết điểm yếu của nó thì mới huấn luyện được. Một chú ngựa huấn luyện thành công là khi tôi có thể điều khiển sang trái phải được, phi nước kiệu, phi nước đại cùng nhiều kỹ thuật nâng cao khác. Trong quá trình huấn luyện, quan trọng nhất là làm cho ngựa hiểu ám hiệu của người cưỡi ngay từ nhỏ”, anh Tông chia sẻ.
Chính tình yêu và niềm đam mê ấy đã biến nài Tông, từ một huấn luyện viên ngựa trở thành “bà đỡ”, thành “bác sĩ” của ngựa. Anh Tông có thể cảm nhận được không chỉ cái đau, mà cả nỗi buồn của chúng. Giống như con người, những chú ngựa thi thoảng cũng bị ho, bị nóng sốt, bỏ ăn. Những khi đau bụng chúng thường cào chuồng, quần đảo, rên rỉ cả đêm không ngủ. Anh sẽ vỗ về, chùi rửa, bôi thuốc lên vết thương mỗi khi chúng bị trầy xước, xoa bụng mỗi khi chúng đau.
“Trừ ca bệnh nào thật sự khó, tôi chưa từng gặp qua hoặc không có thuốc sẵn thì mới cầu cứu bác sĩ thú y. Nhưng những ca như vậy cũng hiếm vì ngựa là giống động vật khỏe. Nếu ăn uống điều độ, thời tiết ổn định, không cần lo lắng nhiều”, anh Tông cho biết.
Nhìn chú ngựa đua to cộ đứng bình yên, khoan khoái đưa chân cho anh sửa móng và những con tuấn mã vạm vỡ, thân cao hơn người nhưng chỉ cần anh Tông xuất hiện, chúng nhẹ nhàng dụi đầu vào anh, mới cảm nhận được sự thân thiện của loài vật nổi tiếng kiêu sa này dành cho người chủ.
Những năm trở lại đây, ngựa trong trang trại cũng được anh Tông huấn luyện theo hướng phục vụ trải nghiệm và quay phim. Khi được huấn luyện, những chú ngựa sẽ có bước đi thanh tao, chầm chậm để toát lên được khí chất quý tộc trong các bộ phim. Ngoài ra, huấn luyện viên cũng rèn tính cách cho ngựa hiền một chút để người đến chụp hình không sợ.
“Từ ngựa đua chuyển sang ngựa làm du lịch, đóng phim, tiếp cận con người và xã hội là một quá trình rèn luyện, thuần phục không mệt mỏi. Một chú ngựa mà ai cũng có thể đến bên cạnh vuốt ve, xoa đầu, cưng nựng và cưỡi trên lưng thì phía sau đó là những công việc khó nhọc kéo dài hàng năm tháng của người huấn luyện”, anh Tông tâm sự.
Dù vất vả lại không giàu có nhưng nài Tông vẫn âm thầm nuôi dưỡng đàn ngựa để thỏa chí tang bồng, thỏa đam mê với tiếng vó ngựa cộp cộp vang lên giữa chốn thị thành. Âm thanh ấy khiến anh và không ít người cùng thời như sống lại khoảng trời trai trẻ cùng ký ức về những mùa xuân có tiếng vó ngựa rền vang.

Gã cao bồi sót lại trên thảo nguyên Đà Lạt
Ngựa cỏ tung vó trên thảo nguyên xanh