Nửa thế kỷ Trường Công an Trung ương: Một thời để nhớ
Hồi đó, nhiều anh chị em thuộc dân tộc ít người ở vùng cao Tây Bắc, Việt Bắc, có người ở tận Tây Nguyên và ở các vùng tự do, đã đi bộ đến kịp khai giảng khóa học của Trường Công an Trung ương ở trong rừng già thuộc bản Phai Cống, xã Xuân Quang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang với mật danh là "Trại chăn nuôi số 1 - E200".
Khóa 1 khai giảng ngày 5/8/1953, có hơn 200 học viên, gồm hầu hết là cán bộ Công an hoặc đã công tác ở một số ngành được tuyển chọn sang Công an. Khóa 2 khai giảng ngày 2/3/1954 có hơn 400 học viên, gồm cán bộ Công an hoặc cán bộ đang công tác ở một số ngành và một số được tuyển chọn học sinh đã là đoàn viên thanh niên cứu quốc ở một số trường phổ thông trung học vùng tự do như Ngô Quyền, Lương Ngọc Quyến, Hàn Thuyên…
![]() |
|
Cuộc họp mặt kỷ niệm 50 năm khóa đào tạo 1 + 2 Trường Công an Trung ương tổ chức ngày 12/4/2003 tại nhà khách Nguyễn Quyền của Bộ Công an. |
Để đảm bảo cho học viên học tốt, quản lý sinh hoạt học tập, mỗi khóa chia thành các học đoàn, mỗi học đoàn có các tổ và các nhóm tam giao. Vì trường mới chuyển từ Cao Bằng về đây nên trước ngày khai giảng, một số học viên đến sớm phải lao động chặt gỗ, tre, nứa, lá ở nơi khác mang vác về đây để làm nhà ở.
Trong quá trình học tập, vào các ngày nghỉ, các học viên còn thay nhau đi bộ vận chuyển lương thực, thực phẩm, đi lấy củi, tăng gia sản xuất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt. Hồi đó, cuộc sống vật chất của cán bộ, học viên nhà trường vô cùng khó khăn, thiếu thốn; cơm đựng vào thùng rồi chia ra rá, canh đựng trong thùng rồi chuyển vào các ống bương lớn chặt vát chéo buộc quai xách. Bát là ống bương cưa ngắn hoặc có ai mang theo được chiếc bát, chiếc ca sắt là rất quý.
Thức ăn chủ yếu là muối và rau rừng. Mỗi khi ăn tươi có ít thịt thì lấy lá chuối rừng hoặc rổ rá nhỏ tự đan làm đĩa. Nước ăn uống, sinh hoạt, tắm giặt chủ yếu là dùng nước đục lờ lờ của dòng sông Gâm. Nước uống hằng ngày dùng cơm cháy đun sôi.
Đời sống vật chất tuy kham khổ, nhưng đời sống tinh thần thì phong phú, vui tươi. Các khóa thường xuyên tổ chức sinh hoạt văn nghệ, làm bích báo, tổ chức nghe đài. Thỉnh thoảng nhà trường liên hệ với đoàn chiếu phim đến chiếu 1, 2 bộ phim, chủ yếu là phim Trung Quốc. Những hôm được tin có chiếu phim, chưa đến giờ chiếu đã tề tựu, chọn chỗ ở bãi cỏ gần các lán ở để xem.
Là những thanh niên nam, nữ, tuổi đời còn rất trẻ, ăn chưa đủ no, mặc chưa đủ ấm, nhiều đêm rét lạnh, chỉ với chiếc chăn đơn mỏng manh, nhưng ai nấy đều nỗ lực học tập. Khi thảo luận tổ, các anh chị đã có kinh nghiệm công tác thực tế trao đổi lại cho một số học sinh mới để bổ sung kiến thức ngoài bài giảng.
Theo chủ trương thì thời gian của mỗi khóa học là 18 tháng. Học viên của cả 2 khóa đang nỗ lực học tập thì nhận được tin vui chiến thắng của các mặt trận, đặc biệt là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng.
Cuộc cách mạng của chúng ta chuyển sang giai đoạn mới, Đảng và Nhà nước phải lo liệu nhiều việc mà bước đầu là tổ chức tiếp quản các vùng mới giải phóng, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội và thành phố Cảng Hải Phòng.
Đồng thời phải tiếp tục hoàn thành cuộc cách mạng dân chủ; giải phóng nông dân bằng phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất, nên học viên của 2 khóa phải kết thúc học tập sớm để ra công tác phục vụ kịp thời nhiệm vụ chính trị. Thế là số học viên được chia làm 2 để đi về xuôi.
Thời ấy nhà trường không có chiếc ôtô nào để chuyển học viên, do vậy Ban Giám hiệu trường cho mua bương tre (có 1 phần học viên lên rừng lấy về) để đóng bè mảng đi xuôi theo dòng sông Gâm, sông Lô ra sông Hồng để về Hà Nội tiếp quản.
Về tiếp quản, một số được phân công ngay vào Hà Nội từ ngày 4 đến 5/10/1954 để đảm nhận các việc chuẩn bị phục vụ cho ngày giải phóng 10/10. Một số làm Cảnh sát, trinh sát chính trị, hình sự… Có hơn 30 chị em được điều ngay sang đảm nhận công tác ở bưu điện phục vụ cho cả 2 nhiệm vụ đảm bảo thông tin thông suốt và phục vụ cho công tác nghiệp vụ Công an.
Còn đoàn đi phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất ở một số tỉnh thì đi bộ đến điểm tập kết, rồi được trên cho xe tải đưa đến các Đoàn ủy, sau đó một thời gian Bộ lại điều về dự học tiếp với khóa đào tạo III - C500, lúc ấy trường đóng ở bên bờ sông Nhuệ để cuối tháng 8 ra Hà Nội chuẩn bị cho cuộc tổng đăng ký hộ khẩu lần đầu tiên ở Hà Nội vào cuối năm 1955.
Trong những năm qua, hầu hết các đồng chí liên tục công tác ở trong ngành hoặc tăng cường sang một số ngành đều là những cốt cán, là lãnh đạo cấp Phòng, cấp Vụ, Cục, Viện, Trường, Giám đốc, Phó giám đốc Công an tỉnh, thành phố.
Có đồng chí là Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng, Viện trưởng, Hiệu trưởng Trường đại học CSND, là Chánh án TAND tỉnh, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Pháp lý, Bí thư, Chủ tịch cấp huyện. Nhiều đồng chí đã hy sinh trong chiến đấu, công tác trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nhiều người đã qua đời vì tuổi cao, bệnh tật hiểm nghèo…
Từ hơn 600 người nay chỉ còn lại 179 người, nghỉ hưu tại 22 tỉnh, thành phố, trong đó đông nhất là ở Hà Nội (105 người). Ban liên lạc toàn quốc của 2 khóa được thành lập từ cuối năm 1992 do Phó Giáo sư - Nhà giáo nhân dân Phạm Minh, Hiệu trưởng Trường đại học CSND làm Trưởng ban (nay đã từ trần).
Ban liên lạc đã tổ chức họp mặt toàn quốc lần đầu năm 1993 và tiếp các năm 1995, 2000 và 2003. Ban liên lạc đã tổ chức được 3 lần về thăm cội nguồn, địa danh nơi mái trường xưa, cùng những di tích lịch sử, cách mạng. Nhân các chuyến đi đã góp tiền trao tặng một số sổ tiết kiệm cho các cháu con liệt sĩ, thương binh Công an, tặng quần áo cho các gia đình nghèo ở địa phương.
Đặc biệt thời gian qua, lãnh đạo Bộ Công an rất quan tâm đến các cuộc họp mặt cựu học viên khóa đào tạo 1 và 2, nhất là cuộc họp mặt kỷ niệm 55 năm (1953 - 2008) sẽ tổ chức vào ngày 12/4/2008 tại Hà Nội.
Sự quan tâm của lãnh đạo Bộ và các Tổng cục là nguồn cổ vũ động viên lớn lao đối với những cựu học viên của 2 khóa học. Đây là cuộc gặp mặt đầy ý nghĩa, khi tuổi đời của các cựu học viên đã cao, sức đã yếu nhưng vẫn nguyên vẹn tấm lòng thủy chung son sắt gắn bó với ngành, với sự nghiệp cách mạng

