Chuyện về những chiến sĩ trên Đoàn tàu không số

Thứ Ba, 23/02/2010, 14:48
Giữa ngày xuân của đất trời Tây Đô, Đại tá Nguyễn Đắc Thắng, 76 tuổi, kể lại chặng đường hoạt động Cách mạng vào sinh ra tử gắn liền với Đoàn tàu không số huyền thoại, và đặc biệt là tình yêu với người bạn đời là đồng chí của mình. Ông càng tự hào về bản lĩnh dũng cảm vượt khó, đức tính thủy chung son sắt của người lính Cụ Hồ.

Cuộc chiến trên biển

Đại tá Nguyễn Đắc Thắng kể, 12 tuổi ông tham gia du kích tại địa phương. 19 tuổi, ông có tên trong danh sách cán bộ miền Nam được tập kết ra Bắc. Năm 1960, khi ông chuẩn bị hành quân về Nam thì được chọn đi học sĩ quan hải quân. Khóa học kết thúc, chàng thanh niên của quê hương Long Trị, huyện Long Mỹ (Hậu Giang) được bố trí về Đoàn 759 - tiền thân của Lữ đoàn Hải quân 125, gia nhập vào đội quân của Đoàn tàu không số, thực hiện nhiệm vụ thiêng liêng: Vận chuyển vũ khí từ Bắc vào tiếp sức cho chiến trường miền Nam.

Tư Thắng kể cho tôi nghe chuyến vượt biển vào Nam đầu tiên mà ông có mặt trên Đoàn tàu không số vào tháng 9/1963. Bấy giờ ông là thuyền phó tàu 56 chở 50 tấn vũ khí. Hành trình của tàu lênh đênh trên biển ngót 7 ngày liền và đã cặp bến an toàn ở bãi Kiến Vàng, thuộc tỉnh Cà Mau.

Sang năm 1964, ông làm Thuyền trưởng tàu số 43. Chuyến này, ông đổ "hàng" ở bến Kiến Vàng. Và đó cũng là những ngày ông không thể nào quên. "Tôi để ý đến cô y sĩ địa phương cứ hay nhìn mình với ánh mắt trìu mến đến khó tả mỗi khi cùng một số chị em mang bánh xuống cho các chiến sĩ trên tàu. Sau nhiều ngày đêm đắn đo, tôi tự xác định đúng là tôi đã bắt đầu yêu cô gái đó. Tuy nhiên, nghĩ đến nhiệm vụ của mình, bao nhiêu hiểm nguy còn rình rập phía trước nên tôi cố ghìm tình cảm của mình lại".

Nhưng rồi trời bỗng nổi dông. Gió giật liên hồi. Một tuần, hai tuần, rồi ngót cả tháng, con tàu số 43 vẫn không thể rời bến. Thời gian khiến Tư Thắng và cô y sĩ Sáu Thùy không thể dối lòng mình mãi được. Thế là, một tiệc tạm gọi là "đính hôn" đã được tổ chức hết sức lãng mạn ngay dưới tán rừng đước. Cả hai ứa nước mắt, hạnh phúc trước sự chứng kiến của đồng đội.

Về đơn vị, Tư Thắng báo cáo tổ chức chuyện yêu của mình. Nhìn lý lịch của cô Thùy mà Tư Thắng đưa, lãnh đạo của ông nhất trí ngay.

Tư Thắng kể, sau Tết Nguyên đán năm 1965, tàu 143 khi vào tới bến Vũng Rô - địa điểm tiếp nhận vũ khí cho chiến trường các tỉnh Duyên hải miền Trung thì bị địch phát hiện và tấn công. Nguy hiểm nhất là bọn địch cũng nghi ngờ  đường vận chuyển vũ khí của ta trên biển Đông. Thế là hàng loạt cảng, điểm tập kết, lên xuống "hàng" bị chúng phong tỏa.

Một "lực lượng đặc nhiệm" của chúng được thành lập với phương tiện được trang bị hiện đại. Bọn chúng ngày đêm lùng sục tất cả những nơi nào mà chúng nghi ngờ. Để đảm bảo tính tuyệt đối bí mật, mỗi con tàu trong Đoàn tàu không số đều cài sẵn bộc phá. Trong trường hợp khẩn cấp không thể chống trả được với kẻ thù, chiến sĩ ta sẽ cho nổ tung tàu, xóa mọi dấu vết.

Kết quả, trong chiến tranh chống Mỹ, ông đã tham gia được 10 chuyến vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam, cặp, đổ "hàng" thành công vào các bến thuộc Cà Mau, Bến Tre, Bà Rịa - Vũng Tàu, Quảng Nam góp phần làm nên chiến thắng

Tình yêu như chuyện cổ tích

Tính tới cuối năm 1970, Tư Thắng đã xa người yêu 6 năm, trong đó có gần 5 năm bặt tin tức. Ông kể: "Đơn vị tôi là đơn vị làm nhiệm vụ đặc biệt, và gần như chỉ lênh đênh trên biển, không điều kiện liên lạc như bây giờ. Và Thùy đã quyết định đi tìm tôi". Đó là năm 1967. Hiểu được tình yêu của người con gái Cà Mau, nhiều đơn vị cũng đã tạo điều kiện để chị đi tìm người thuyền trưởng Đắc Thắng. Đầu xuân 1968, khi chị ở Đội Phẫu thuật tiền phương cùng đồng đội thuộc Trung đoàn 1 tham gia chiến đấu tại Lộ Vòng Cung (Cần Thơ) thì được tin sét đánh: Có một chiếc tàu trong Đoàn tàu không số nổ tung. Thuyền trưởng tàu là Tư Thắng.

Vợ chồng Anh hùng Nguyễn Đắc Thắng.

Đau đớn đến tột cùng. Thùy nuốt nước mắt xin tổ chức được để tang chồng. Dẫu vậy, trong thâm tâm của Thùy vẫn không nghĩ rằng Tư Thắng đã hy sinh. Và Thùy nảy ý định ra Bắc để tìm người yêu.

Một ngày cuối tháng 9/1972, chuyến tàu của Tư Thắng về tới Cà Mau. Ngay sáng hôm sau, tổ chức gọi ông lên hỏi chuyện và thông tin cho ông biết, Sáu Thùy đang phục vụ chiến đấu ở bến khác trong tỉnh. Hôm ấy, Sáu Thùy cũng được lệnh đi công tác và chẳng nghĩ rằng tổ chức đang bố trí cho hai người gặp nhau. Tư Thắng nhớ lại: "Khoảng 4h chiều hôm ấy, chúng tôi gặp nhau. Từ cách nhau một quãng đồng xa, tôi dù đen đủi, già đi,… nhưng Sáu Thùy vẫn nhận ra. Bà chạy đến tôi, không nói được gì mà chỉ khóc. Tôi cũng khóc theo".

Ngày hôm sau, đám cưới của hai người được tổ chức đứng ra lo liệu. Theo lời ông, nơi đó bây giờ thuộc xã Khánh Bình Tây, huyện Trần Văn Thời, Cà Mau. "Anh em người bắt cua, người bắt cá mang về tổ chức. Sau đó, hai vợ chồng được đơn vị giao làm chủ cái chòi cất bằng cây, lá nằm khép mình dưới bờ chuối. Đây là căn chòi của anh em cơ yếu, điện đài nhường lại…".

Tư Thắng kể rằng, nói bằng lời, không thể diễn tả hết niềm hạnh phúc của ông và Sáu Thùy cũng như sự "vui lây" của anh em hai đơn vị lúc đó. Hơn 8 năm chờ đợi, mong ngóng tin nhau, rồi hội ngộ, thành vợ, thành chồng, cả hai có lúc dường như không tin đó là sự thật.

Ngày 30/4, người ta thấy vợ chồng Đắc Thắng - Sáu Thùy có mặt trong đoàn quân tiến về tiếp quản TP Cần Thơ. Năm 1997, sau ngót 20 năm kể từ ngày được Đảng, Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVTND, Đại tá Nguyễn Đắc Thắng nghỉ hưu với cương vị là Trưởng phòng Hải quân thuộc Quân khu 9. Bà Sáu Thùy sau chiến tranh là Thượng úy chuyển công tác sang Xí nghiệp 720 của Bộ GTVT.

Nghe chuyện kể của Đại tá Nguyễn Đắc Thắng về Đoàn tàu không số, tôi thấy mắt bà Sáu Thùy ánh lên niềm tự hào. Tự hào về những con người đã vượt lên hiểm nguy của trùng dương, của chiến tranh để sống trọn vẹn với tình yêu dành cho Tổ quốc và tình yêu lứa đôi.

Đại tá Nguyễn Đắc Thắng ngậm ngùi nói: "Năm 2011 sẽ là kỷ niệm 50 năm Đoàn tàu không số. Mấy năm liên tục, mỗi khi đến ngày kỷ niệm truyền thống 23-10 hằng năm là anh em bớt đi. Như năm ngoái, tổ chức tại Cần Thơ, cả miền Tây chỉ có 58 anh em có mặt. Nhưng rồi ông tâm sự. Trong suốt thời gian phục vụ chiến đấu, Đoàn tàu không số đã hoàn thành vẻ vang sứ mệnh với 168 chuyến tàu cặp bến, chi viện cho chiến trường miền Nam hơn 6.000 tấn vũ khí. Tất cả những người tham gia Đoàn tàu không số đều xứng đáng với hai chữ Anh hùng…"

Thái Bình
.
.