Chuyện ở trại giam khó khăn nhất miền Bắc
Ở trại giam Yên Hạ có tới 70% phạm nhân là người dân tộc thiểu số. Có chuyện một phạm nhân không biết tiếng Kinh, dạy mãi chỉ biết đếm đúng số 1 nên điểm danh luôn đứng ở đầu hàng. Có người mỗi khi nhận cơm lại đổ vào... lá chuối và ăn bốc.
Con đường dài 3km từ quốc lộ 32B vào Phân trại 2 (
Nhắc tôi bám chặt để về số 1 leo lên con dốc dựng ngược lên đỉnh đồi, anh cảnh sát bảo vệ trẻ măng bảo: “May mà anh lên đúng hôm nắng, chứ không thì vẫn phải cuốc bộ như hai năm trước”. Đi xe máy trên đường này chủ yếu là gài số 1 mới leo nổi dốc, còn xuống dốc cũng phải dùng số 1 để hỗ trợ 2 phanh, chứ không có phanh xe vẫn lao vèo vèo. Vì ngày nào cũng phải chạy trên con đường khủng khiếp này nên xe máy của anh em không chỉ tốn phanh mà lốp, nhông xích cũng phải thay liên tục.
Đã biết tài đi xe của lính ở đây, nhưng ngồi xe máy đi trên con đường mòn chênh vênh sát miệng vực, hết lên dốc lại xuống dốc, mà toàn dốc thẳng đứng, mặt đường thì lồi lõm, tôi vẫn thấy “lạnh sống lưng”. Vì thế hầu hết những vị khách lần đầu đến chỉ dám ngồi xe máy một đoạn rồi... xin xuống đi bộ cho yên tâm.
Vừa lái xe như làm xiếc, anh "tài xế" trấn an tôi “anh yên tâm, xe máy của bọn em ở đây còi không cần nhưng phanh thì cực tốt, cứ 3 tháng là thay má một lần. Bọn em đi thi bằng lái xe máy chỉ cần nói ở Trại Yên Hạ là người ta cho đỗ vì chẳng có đường nào bằng ở đây”.
Đường vào phân trại K3 - Trại giam Yên Hạ.
Gặp lại người quen, Thượng tá Đinh Công Bằng, Phó giám thị phụ trách K2 tay bắt mặt mừng, khoe ngay: “So với 2 năm trước, bây giờ anh em tôi ở đây đã có nhiều cái mới lắm, đã có điện thoại, thêm 6 cái tivi và nhất là có điện lưới nên được dùng điện cả ngày”. Anh Bằng trước là Phó Công an huyện Mường La, năm 1996 mới chuyển về Yên Hạ khi trại vẫn còn thuộc Công an Sơn La. Năm 1997, khi K2 được thành lập, anh được giao phụ trách cho tới bây giờ.

Tôi ngó quanh cái cơ ngơi của ông Phó giám thị, ngoài những gì mà anh Bằng khoe thì tất cả... vẫn như trước, nghĩa là vẫn nhà tranh vách nứa, từ khu nhà ở của Ban giám thị tới mấy dãy nhà giam giữ phạm nhân. Ngay trong căn nhà gỗ 3 gian lợp ngói, vách thưng bằng phên nứa, dù có dán giấy báo vẫn hở tứ phía của anh Bằng vẫn bộ bàn ghế, cái tủ ly có từ “một nghìn chín trăm... lâu lắm”, cũ kỹ tới mức không thể cũ hơn, ở góc nhà vẫn là cái phản gỗ ọp ẹp mà anh em gọi vui là... sập gụ (có lần Cục phó Cục Quản lý Trại giam lên thăm anh em, khi đang ngồi ăn cơm thì 4 cái chân “sập gụ” bị mọt không chịu nổi sức nặng của chục con người đã gãy gập xuống, cơm canh văng tung toé).
Chỉ ra khu trại mới được xây kiên cố đang hoàn thiện, anh Bằng bảo: “Đây là lần cuối anh em mình ngồi với nhau trong cảnh nhà tranh vách nứa thế này; lần sau anh lên là ôtô đỗ tận cửa chứ không phải đi bộ nữa”. Cuối năm nay khu trại mới sẽ đưa vào sử dụng. Vậy là mong ước 10 năm kể từ ngày anh em kéo nhau về đây dựng trại đã sắp thành hiện thực, khi đó chỗ này sẽ chỉ là nơi sản xuất.
Nhưng đấy là chuyện của tương lai gần, còn bây giờ vẫn đang là mùa mưa và mỗi khi trời nổi cơn mưa gió, anh em lại lo đổ nhà, tốc mái, chứ dột với hắt thì... đương nhiên. Hồi tháng 4 vừa rồi, chỉ một trận lốc đã thổi bay một nhà ăn của phạm nhân, một nhà bếp của cán bộ; tốc mái hai dãy nhà giam phạm nhân.
Anh Bằng bảo tôi: “Anh nên vào trong K3 thăm anh em, so với ngoài này thì trong ấy còn khổ hơn nhiều”. K3 là gọi mãi thành quen, chứ tên gọi chính thức là khu sản xuất Mường Lang của
Đúng là so với ngoài Phân trại thì trong này vừa khổ, vừa... buồn hơn. Đường sá cách trở vì bị con suối bao vây, chỉ cần mưa to vài tiếng, nước suối dâng lên là thành ốc đảo (mấy năm trước có một quản giáo suýt bị lũ cuốn trôi vì định vượt suối). Vì thế kho dự trữ của anh em trong này, ngoài gạo, muối, dầu chạy máy, bao giờ cũng phải có cá khô để dự phòng những ngày mưa lũ, không thể đi chợ được.
Giữa trưa nắng, thấy khách mồ hôi nhễ nhại, Thượng úy Đỗ Hồng Quyền đưa cho tôi chiếc quạt giấy rồi phân trần: “Trong này chỉ tối mới có điện thôi vì không đủ dầu nuôi máy phát, với lại chạy suốt ngày chắc máy cũng chẳng chịu nổi”. Trước kia anh em thường tự sản xuất điện bằng mấy cái củ máy thủy điện nhỏ của Trung Quốc đặt dưới suối. Điện chỉ đủ thắp mấy cái bóng mà máy cứ hỏng suốt, chưa kể mỗi khi có lũ mà không kịp nhấc lên thì trôi mất luôn, vì thế khi điện lưới kéo về tới ngoài phân trại, máy phát được đưa vào đây.
Mỗi tháng trại cấp cho 200 lít dầu, nếu chạy cả ngày chắc chỉ đủ khoảng 15 ngày, vì thế chỉ chạy máy từ 7 giờ tối tới 11 giờ đêm để xem tivi; còn ban ngày nếu ở trong nhà nóng quá thì ra... ngồi gốc cây hoặc... xuống suối tắm. Theo kế hoạch, nếu nhanh cũng phải cuối năm nay mới kéo được điện lưới vào.
Nhưng với cánh lính trẻ, cuộc sống kham khổ mãi cũng quen. Cái không thể quen được là buồn. Gần 20 anh em quản lý 70 phạm nhân, cả ngày làm quần quật trên nương (vì ở đây phạm nhân được tổ chức thành các đội chăm sóc bảo vệ rừng, trồng hoa màu và chăn nuôi), tối về chỉ có duy nhất chiếc tivi làm cầu nối với bên ngoài để biết tin tức; báo có lên tới nơi thì toàn là báo cũ. Vì thế nhiều khi chỉ mong có khách.
Hôm tôi lên gặp vợ Thượng úy Quyền, một cô giáo tiểu học dạy học ở Thu Cúc (Phú Thọ), nghỉ hè lên với chồng cho.... đỡ buồn. Sống nơi rừng xanh núi đỏ này, lấy được một cô vợ có công ăn việc làm như thế không phải dễ, bởi có cô nào về nhận công tác ở trại thì đều ở trên văn phòng (vì trại không có phạm nữ), còn muốn làm quen với các cô giáo thì phải đi vài chục cây số mới có trường học.
Nghe tôi hỏi bao giờ trong K3 có nhà xây, anh Bằng cười: “Chắc là còn lâu” rồi kể tháng 5 vừa rồi, đoàn kiểm tra của Viện KSND tối cao khi lên kiểm tra công tác giam giữ, cải tạo, nhìn cảnh này ai cũng ái ngại. Nhưng vì hoàn cảnh khách quan nên cũng thông cảm và động viên anh em cố gắng làm tốt nhất ở mức có thể.
Trại giam
Được tín nhiệm quá khiến Thượng tá, Giám thị Đỗ Xuân Huấn thấy lo, vì để duy trì ở mức trên dưới 2.000 phạm nhân thụ án như hiện nay, trong khi chỉ có 2 nơi giam giữ, trại đã ở trong tình trạng “đất chật người đông”. Đã mấy năm nay, Ban Giám thị đi liên hệ với địa phương để xin đất lập thêm một phân trại nữa nhưng không được. Đấy là chưa nói với số lượng phạm như hiện nay, anh em cũng đã phải làm cố.
Bởi tiếng là trại có tới mấy trăm quân nhưng lúc nào cũng có vài chục người đang theo học các lớp tại chức, thành ra mỗi quản giáo ở đây đều phải nhận số lượng phạm quá “tiêu chuẩn”. Không những thế, theo quy định trại loại 3 như Yên Hạ chỉ cải tạo những phạm nhân có mức án dưới 7 năm, nhưng hiện nay đang có tới 300 phạm nhân án từ 10 tới 20 năm thụ án.
Nhưng với quản giáo ở Yên Hạ, quản lý số lượng phạm quá “định mức” cũng không vất vả bằng phải giáo dục phạm. Trong số phạm nhân đang chấp hành án ở đây thì có tới 70% phạm nhân là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa của các tỉnh Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, vì thế có tới 300 người mù chữ, nói không sõi thậm chí không biết nói tiếng phổ thông.
Vì thế chuyện phạm nhân ngày đầu về trại, quản giáo hỏi tên tuổi cũng không biết trả lời, phải nhờ phiên dịch (cho nên quản giáo ở đây ai cũng phải học thêm những từ thông dụng tiếng dân tộc); hoặc có người nói được tiếng phổ thông thì lại rất vô tư xưng... bố với quản giáo vì “ở nhà bố quen nói thế rồi”, bảo ký thì đưa ngón tay ra chỉ vào lọ mực (để điểm chỉ) trở thành “chuyện thường ngày ở trại”.
Nhận thức của phạm nhân như vậy nên anh em quản giáo ở đây phải làm công việc của một "bảo mẫu", dạy tất cả từ gặp cán bộ phải chào, cách điểm danh; ăn, ở thế nào cho hợp vệ sinh; chấp hành quy định trại giam tới cách trồng cấy... tất cả đều phải “cầm tay chỉ việc”. Chỉ riêng quy định trại giam thôi mà tuần nào cũng phải tập trung một buổi để phổ biến chứ không họ lại quên ngay.
Phần lớn phạm nhân đều là án ma túy nên số bị nghiện rất đông. Vì vậy công việc đầu tiên khi tiếp nhận phạm nhân mới về là phải phân loại theo “danh mục”: có nghiện không, có nói được tiếng Kinh không và có biết chữ không. Nếu nghiện, việc đầu tiên là đưa vào trạm xá để cai và phục hồi sức khỏe rồi mới về các đội lao động. Không biết nói tiếng phổ thông thì phải cho về các đội có người cùng dân tộc để dạy kiểu truyền khẩu. Vì thế có phạm nhân ngày đầu về trại chẳng biết câu nào nhưng sau hơn một năm ở trại, khi về đã nói sõi và biết chào hỏi cán bộ.
Mấy chục năm làm quản giáo, Trung tá Phạm Xuân Kiên, Đội trưởng Đội Quản giáo, có một kho những câu chuyện về việc dạy phạm nhân nghe cứ như bịa. Mấy năm trước có một phạm nhân khi vào không biết nói tiếng Kinh, dạy mãi cũng chỉ biết đếm đúng số 1, vì thế điểm danh bao giờ cũng giành đứng ở đầu hàng, bởi nếu không thì anh chàng này sẽ không biết mình đứng thứ bao nhiêu.
Có người mỗi khi nhận phần cơm chia xong, thay vì cầm bát đũa thì lại đổ vào... lá chuối và ăn bốc; hỏi sao không ăn bằng bát đũa như mọi người thì trả lời bao nhiêu năm ở nhà đi nương toàn ăn thế này, vừa tiện lại đỡ phải... rửa bát, bây giờ ăn bằng bát không quen. Lại có phạm nhân người Mông khi vào trại tóc dài tới vai nhưng dứt khoát không chịu cắt tóc với lý do đầu anh ta là nơi chỉ có... Giàng mới được động vào, chứ người thì... cấm chỉ.
Gặp những trường hợp như vậy, nếu cứ lấy quy chế trại giam ra bắt họ theo ngay thì sẽ chào thua. Vậy là phải dùng chính những phạm nhân cùng đội, cùng dân tộc để vận động dần. Vì thế phải tới mấy tháng sau anh chàng tóc dài ấy mới chịu cho người khác sờ vào đầu để cắt tóc.
Quản lý tù sống đã vất vả, đến chuyện tù chết cũng không đơn giản. Rất nhiều phạm nhân trước khi vào trại đã nghiện ma túy và bị nhiễm HIV, vì vậy số này sau một thời gian vào đều chuyển sang AIDS và chết trong trại. Theo quy định, với những phạm nhân đã bị AIDS giai đoạn cuối nếu có thân nhân bảo lãnh sẽ được cho về. Nhưng thực tế chẳng có gia đình nào muốn nhận một kẻ sắp chết về làm gì cho thêm phiền.
Có gia đình khi được thông báo người nhà ốm nặng, tới khi lên mới biết là bị AIDS lại còn trách anh em không nói rõ để họ... khỏi mất công lên. Vì thế mỗi năm ở đây có tới vài chục phạm chết vì AIDS và trại đương nhiên phải lo tất.
Vẫn chưa hết chuyện. Thông thường với người Kinh sau vài năm sẽ bốc mộ, nhưng phong tục của người dân tộc là chỉ chôn một lần nên dù có muốn trại cũng không thể tự bốc mộ được vì nếu tự ý làm, người nhà họ biết mà kiện cho thì chỉ có thua. Mấy năm trước, có anh quản giáo thấy khu mộ phạm nhân cỏ mọc um tùm liền cho phát quang, không ngờ đúng dịp đó người nhà họ lên thấy cỏ được phát sạch liền kéo lên ban giám thị đòi... phạt vì dám động vào mộ người thân của họ. Với “cái lý” của người Mông như vậy thì đành chịu thua và hòa giải, may mà họ chịu nghe.
Trung tá Kiên than thở vì những lý do này mà hiện vẫn chưa tìm ra cách nào để có thể quy hoạch được khu nghĩa địa phạm nhân, nếu cứ kéo dài thì sẽ đến lúc không còn đất nữa, lúc ấy thì để tìm được đất chôn tù chết cũng không đơn giản vì dân thì không bao giờ cho chôn tù ở nghĩa trang của họ. Đúng là đã khó thì khó đủ đường
