Người Bí thư Tỉnh ủy, Giám đốc Công an thấu lý đạt tình

Chủ Nhật, 12/12/2010, 19:47
Hơn nửa cuộc đời gắn bó với chiến tranh đầy ắp khó khăn gian khổ, ông Nguyễn Duy Luân đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, trong đó có Huân chương Độc lập hạng nhất và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Yên đang đề nghị Chủ tịch nước tặng thưởng ông Huân chương Hồ Chí Minh để ghi nhận những đóng góp của ông từ kháng chiến đến thời bình, trong đó có những chiến công thầm lặng trong nghề Công an mà ông đã trải nghiệm.

Tham gia Việt Minh từ năm 1946, đến nay ông Nguyễn Duy Luân - bí danh Chín Cao đã 84 tuổi đời, 64 tuổi Đảng. Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, 35 năm ông là Ủy viên Ban Thường vụ (BTV) Tỉnh ủy Phú Yên, Phú Khánh, 15 năm giữ chức Bí thư Tỉnh ủy gắn liền cương vị Ủy viên Trung ương Đảng hai nhiệm kỳ. Không chỉ gắn bó với công tác của Đảng, mà ông còn có duyên với nghề Công an. Từng là Trưởng ban An ninh huyện Tuy Hòa 1, Trưởng ban An ninh tỉnh Phú Yên trong kháng chiến chống Mỹ và Giám đốc Công an Phú Khánh trong thời bình, ông có nhiều kỷ niệm sâu sắc khi đối mặt, giải quyết những vụ việc phức tạp về an ninh trật tự.

Tham gia chỉ đạo phong trào đồng khởi

Vóc dáng cao lớn, phong cách bình dị, chân tình, cá tính cẩn trọng là những gì tôi cảm nhận khi tiếp xúc ông Chín Cao tại nhà riêng ở phố Trần Bình Trọng, phường 3, TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Có duyên với nghề Công an, nên ông càng cởi mở chân tình và nồng nhiệt hơn khi nhắc đến những kỷ niệm một thời theo nghề Công an. Ông sinh trưởng ở Hòa Thịnh - quê hương giàu truyền thống cách mạng kiên cường trong hai cuộc kháng chiến và là xã "đỏ" của Tuy Hòa 1 - nay là huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên. Nơi ấy cách đây 50 năm, vào đêm 22/12/1960 quân và dân Hòa Thịnh nổi dậy đồng khởi, diệt ác phá kềm, xây dựng chính quyền cách mạng, mở ra phong trào giải phóng các tỉnh Khu 5. Với cương vị Ủy viên BTV Huyện ủy Tuy Hòa 1 lúc đó, ông Chín Cao là một trong những người chỉ huy thắp sáng ngọn lửa đồng khởi Hòa Thịnh.

Những ngày đầu thoát ly, ông làm Phó Bí thư Chi bộ xã Hòa Thịnh, đầu năm 1947 chuyển sang Công an tỉnh Phú Yên và làm thư ký Công an các huyện Tây Sơn, Tuy An trong nhiều năm. Hiệp định Geneva ký kết, nhiều đồng đội tập kết ra Bắc, còn ông được tổ chức chỉ định ở lại hoạt động bí mật. Khi được BTV Huyện ủy Tuy Hòa 1 phân công chuẩn bị cuộc đồng khởi Hòa Thịnh, ông cất công tìm hiểu đời sống sinh hoạt của Đào Công Văn - Cảnh sát trưởng xã Hòa Thịnh và bà Võ Thị Huê, mẹ vợ của Đại úy Châu, Đại đội trưởng Bảo an - một đối tượng gian ác, nợ máu cách mạng và nhân dân. Bằng những câu chữ tinh tế, ông Chín Cao viết thư thuyết phục họ đến điểm hẹn để cảm hóa, xây dựng cơ sở nội tuyến, nắm bắt hoạt động của địch, tạo yếu tố bất ngờ cho cuộc đồng khởi thành công.

Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh và ông Nguyễn Duy Luân.

Chỉ huy An ninh từ huyện đến tỉnh

Ông Chín Cao cho biết: "Những năm làm Bí thư Huyện ủy kiêm Trưởng ban An ninh huyện Tuy Hòa 1 (1962-1964) tôi không chỉ tham gia rà soát, loại trừ "chân rết" của địch trong đội ngũ dân công chuyển tải vũ khí từ những chuyến tàu không số cập bến Vũng Rô chi viện chiến trường Phú Yên, Khánh Hòa, Đắk Lắk, mà còn triển khai nhiều hoạt động diệt ác phá kềm, loại trừ gián điệp cài cắm ở căn cứ cách mạng, bảo vệ an toàn vùng giải phóng và cán bộ lãnh đạo của tỉnh".

Tại Đại hội Đảng bộ Phú Yên lần thứ hai (1/1965), ông được bầu vào BTV Tỉnh ủy và làm Trưởng ban Dân vận, nhưng 3 tháng sau được điều động phân nhiệm Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa 2. Sau chiến dịch Mậu Thân (1968), do yêu cầu củng cố lực lượng vũ trang, ông được giao chức trách Chính ủy Tỉnh đội Phú Yên. Ba năm sau, tại Đại hội Đảng bộ Phú Yên lần thứ tư (10/1971), ông Chín Cao được bầu làm Phó Bí thư.

Ông tâm sự: "Tôi có duyên với nghề Công an, nên sau 3 tháng làm Phó Bí thư đã kiêm nhiệm Trưởng ban An ninh Phú Yên. Đến Đại hội Đảng bộ Phú Yên lần thứ năm (9/1973) tại xã Sơn Long, huyện Sơn Hòa, tôi được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, nhưng vẫn kiêm nhiệm Trưởng ban An ninh cho đến ngày giải phóng Phú Yên".

Suốt ba năm đó, ông Chín Cao chỉ đạo lực lượng An ninh tăng cường hiệu quả công tác phòng chống gián điệp, biệt kích xâm nhập, bóc gỡ một số đầu mối nội gián do cảnh sát đặc biệt cài cắm, trực tiếp đánh địch nhiều nơi, tham gia giải phóng 8 xã ở huyện Tuy Hòa 1, Tuy Hòa 2 và đặc biệt là phối hợp bộ đội, du kích chặn đứng cuộc rút lui chiến lược của địch từ Tây Nguyên xuống đồng bằng trên đường số 5 rồi tiến vào giải phóng thị xã Tuy Hòa.

Ông Chín Cao kể: "Lúc đó, ngoài nhiệm vụ Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng ban An ninh, tôi còn là Chính ủy Sở Chỉ huy tiền phương Phú Yên nên phải tất bật với nhiều công việc. Thế nhưng sau khi giải phóng thị xã, tôi tranh thủ chỉ đạo quản lý chặt chẽ tàng thư hồ sơ của địch phục vụ công tác an ninh, đồng thời tiến hành phân loại để cải tạo giáo dục các đối tượng chính trị…".

Ngày 1/1/1976, tỉnh Phú Khánh thành lập trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, ông Nguyễn Duy Luân làm Phó Chủ tịch UBND tỉnh hơn ba năm thì về lại… huyện theo chỉ đạo của Trung ương. Ông nhớ lại: "Lúc đó cả tỉnh thực hiện chủ trương hợp tác hóa nông nghiệp, nhiều hợp tác xã (HTX) hình thành và hoạt động nhưng vấp phải nhiều trở ngại, thậm chí có nơi xã viên né tránh ra đồng làm cỏ, gặt lúa. Trong lúc Tỉnh ủy Phú Khánh đang tìm giải pháp củng cố, thì cuối năm 1979, Tổng Bí thư Lê Duẩn về thăm HTX Nông nghiệp Hòa Bình 1, huyện Tuy Hòa.

Sau chuyến đi thực tế đó, trong cuộc họp với BTV Tỉnh ủy, Tổng Bí thư chỉ đạo phải cử cán bộ có uy tín về làm Bí thư Huyện ủy Tuy Hòa để vực dậy sinh khí vựa lúa lớn nhất miền Trung, đảm bảo "dạ dày" cho cả Phú Khánh". Ông Chín Cao về lại quê hương với bộn bề nỗi lo và ngổn ngang thử thách. Hơn nửa năm lặn lội xuống từng địa phương để chỉ đạo, hoạt động các HTX nông nghiệp dần ổn định và phát triển.

Trở lại với nghề Công an

Chưa kịp "yên" chỗ, thì bấy giờ ông Lê Văn Đại, Giám đốc Công an Phú Khánh đến tuổi nghỉ hưu, trong khi yêu cầu đặt ra là người kế nhiệm phải có chân trong Thường vụ và có nghề Công an. Chính yêu cầu đó đã đưa ông Nguyễn Duy Luân trở lại công tác an ninh với chức trách Giám đốc Công an Phú Khánh suốt 5 năm (1980-1985) và sau đó là Bí thư Tỉnh ủy Phú Khánh, tới khi tái lập tỉnh Phú Yên ông tiếp tục làm Bí thư Tỉnh ủy thêm 7 năm nữa mới nghỉ hưu. Nghe tôi hỏi về những kỷ niệm trong nghề Công an, ông Chín Cao bồi hồi nhớ lại: "Nhiều lắm, nhưng sâu sắc nhất với tôi vẫn là chuyện dùng tình người để xử sự, cảm hóa giáo dục đối tượng phạm pháp".

Ông kể: "Thời tôi làm Giám đốc Công an Phú Khánh, những vụ vượt biển trốn ra nước ngoài và nhen nhóm tổ chức phản động là vấn đề nổi cộm. Hồi đó bên an ninh phát hiện, bắt giữ ông Q.T - một trí thức, có chức quyền trong chế độ cũ ở tỉnh Khánh Hòa đã cùng một số phần tử xấu phản cách mạng. Có ý kiến đề xuất xử tù thật nặng và tiêu hủy tủ sách của người này. Tôi thức trắng đêm suy tính, xử tù thì đúng người, đúng tội, nhưng ông T đã ngoài 70 tuổi, đang lâm bệnh nặng, có đưa vào tù thì vài tháng ông sẽ mất, người thân sẽ oán trách. Nếu cho về nhà, ông cũng không thoát khỏi tầm tay tử thần, nhưng lại được gia đình chăm sóc chu đáo, dù có chết thì người thân vẫn phải cảm phục Công an và chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước".

Với suy nghĩ đó, hôm sau ông Chín Cao tranh thủ ý kiến của năm vị phó giám đốc rồi trực tiếp vào trại tạm giam gặp ông Q.T. Được mời uống trà, hút thuốc lá và nói chuyện rất tử tế, ông T đã kể cho Giám đốc Nguyễn Duy Luân nghe về cuộc đời của mình và lỗi lầm vấp phải khi bị lôi kéo vào tổ chức phản động. Nghe vị Giám đốc Công an chỉ dẫn lối về với gia đình bằng con đường bảo lãnh, ông T xúc động bật khóc, cam kết hợp tác với cơ quan An ninh…

Một câu chuyện khác tưởng chừng chỉ có trong văn học, nhưng với vị thế Giám đốc Công an Phú Khánh, ông Chín Cao đã ứng xử đậm chất nhân văn. Nhân vật trong chuyện là ông V.K một trí thức bị bắt giữ về tội tổ chức vượt biển trốn ra nước ngoài. Trong lúc đang cải tạo tại Trại giam A30 thì mẹ ruột ông lâm bệnh chết. Ông K là con cả, nên người thân đến xin về chịu tang nhưng không được giải quyết. Nghe tin, ông Chín Cao trực tiếp liên lạc với giám thị trại giam.

Ông bảo: "Trại giam từ chối giải quyết là đúng quy định. Nhưng trường hợp này ông K là người được họ tộc tín nhiệm, tha thiết trông chờ, nếu không có mặt ở đám tang thì dòng họ ông sẽ có cái nhìn thiếu thiện cảm với Công an. Ngược lại nếu ta xử sự bằng tính nhân văn thì hình ảnh của người Công an sẽ đẹp hơn trong tâm trí người dân".

Nghĩ vậy, ông Chín Cao chỉ đạo cho xe ôtô đưa ông K vượt chặng đường gần 140km từ Trại A30 về tới nhà ở huyện Diên Khánh trước sự ngạc nhiên, xúc động đến dâng trào nước mắt của chính phạm nhân và người thân. Đằng sau những câu chuyện như thế, niềm tin yêu cảm phục của người dân với Công an càng thêm củng cố và thật sự trở thành điểm tựa vững chắc để lực lượng Công an bảo vệ bình yên cuộc sống.

Hơn nửa cuộc đời gắn bó với chiến tranh đầy ắp khó khăn gian khổ, ông Nguyễn Duy Luân đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương, trong đó có Huân chương Độc lập hạng nhất và Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Yên đang đề nghị Chủ tịch nước tặng thưởng ông Huân chương Hồ Chí Minh để ghi nhận những đóng góp của ông từ kháng chiến đến thời bình, trong đó có những chiến công thầm lặng trong nghề Công an mà ông đã trải nghiệm.

Đại tá Nguyễn Nhất Tâm - Phó Giám đốc Công an tỉnh Phú Yên, con trai ông Nguyễn Duy Luân:

Đại tá Nguyễn Nhất Tâm.

Tôi thật sự tự hào khi sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Ngoài ba tôi, hai người bác và hai người chú ruột cũng thoát ly tham gia kháng chiến, trong đó có người bị địch bắt đày ra Côn Đảo, có người là liệt sĩ Công an, nguyên Phó ban An ninh huyện Sông Cầu.

Là con trai duy nhất trong gia đình, nhưng năm 10 tuổi, tôi đã được đưa lên chiến khu, theo các cô, chú vượt đường rừng Trường Sơn ròng rã hai tháng trời ra miền Bắc và được vào Trường học sinh miền Nam. Sau ngày thống nhất, tôi trở về Phú Yên tiếp tục đi học và nuôi ước mơ vào ngành Công an. Đáp lại những nỗ lực học tập của tôi là niềm vui lớn đầu đời khi trúng tuyển vào Trường Đại học An ninh (nay là Học viện An ninh) tại Hà Nội năm 1979 và được kết nạp vào Đảng khi còn là sinh viên.

Ra trường tháng 7/1984, khi ba tôi là Giám đốc Công an tỉnh Phú Khánh, ở nhà chỉ còn một mình má, nên tôi phải công tác tại Công an thị xã Tuy Hòa hơn một năm mới chuyển vào Phòng PA38 - nay là PA88 Công an Phú Yên. Nhiều người ngạc nhiên dò hỏi vì sao có ba làm giám đốc nhưng lại về một đơn vị luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn gian khổ. Họ không biết rằng chính ba đã bảo tôi phải về nơi đó để tự rèn luyện, trải nghiệm trước mọi thử thách mới có thể trưởng thành.

Hồi đó, chuyện khen thưởng rất hiếm, nhưng tôi là cán bộ trẻ, năng động, năm nào cũng được khen thưởng. Thế nhưng mấy lần đơn vị đề nghị bổ nhiệm chức danh Phó trưởng phòng đều bị từ chối. Sau này mới biết ba tôi chỉ đạo phải lựa chọn, ưu tiên cho người khác. Mãi tới khi tái lập tỉnh Phú Yên, tôi mới được bổ nhiệm Phó trưởng Phòng PA38. Tám năm sau đảm nhiệm Trưởng phòng Tổ chức cán bộ và đến tháng 10/2008 được Bộ trưởng Bộ Công an bổ nhiệm Phó Giám đốc Công an Phú Yên.

Có nhiều điều học được ở ba tôi, nhưng trân trọng nhất là đức tính tự mình rèn luyện, phấn đấu để trưởng thành, không nên trông cậy vị thế của cha anh, thứ hai là phải biết tiết kiệm thời gian và vật chất không chỉ cho chính mình mà cho mọi người và xã hội, thứ ba là khi xử lý một vụ việc cần phải thận trọng tính toán hai vế "thấu lý, đạt tình", đặc biệt là nghề Công an càng cần phải nghĩ tới điều này...

Phan Thế Hữu Toàn
.
.