Hơn 1 triệu m³ cát ở Thủy điện Đakrông 4: Nạo vét hay khai thác trá hình?

Thứ Hai, 23/03/2026, 15:28

Giữa những dãy núi trùng điệp phía Tây tỉnh Quảng Trị, hồ chứa của công trình Thủy điện Đakrông 4 vốn được xây dựng nhằm mục tiêu phát điện, điều tiết dòng chảy trên sông Đakrông. Công trình có quy mô không lớn, với công suất thiết kế 28 MW, sản lượng điện trung bình khoảng 80–85 triệu kWh mỗi năm . Thế nhưng, thời gian gần đây, một đề xuất nạo vét bồi lắng kết hợp thu hồi khoáng sản tại lòng hồ lại gây chú ý bởi con số đi kèm: hơn 1 triệu m³ cát.

Khi lượng tài nguyên mang giá trị thương mại lớn được đưa ra khỏi lòng hồ, câu hỏi đặt ra không chỉ là chuyện kỹ thuật, mà còn là cách thức quản lý: doanh nghiệp có được bán trực tiếp, hay bắt buộc phải đấu giá để tránh thất thoát tài sản công?

Dáng dấp của một mỏ cát

Theo hồ sơ trình cấp có thẩm quyền, kế hoạch nạo vét lòng hồ Thủy điện Đakrông 4 cho phép thu hồi khoảng 1.033.362 m³ cát làm vật liệu xây dựng thông thường, trên diện tích hơn 32 ha, được chia thành 5 khu vực, với thời gian thực hiện kéo dài tới 5 năm.

Về nguyên tắc, nạo vét lòng hồ là hoạt động kỹ thuật nhằm duy trì dung tích hữu ích của hồ chứa, hạn chế bồi lắng và đảm bảo an toàn công trình. Tuy nhiên, trong thực tế, hoạt động này thường mang tính cục bộ, thực hiện theo từng đợt và trong thời gian ngắn. Vì vậy, khi một kế hoạch nạo vét đi kèm khối lượng lên tới hơn 1 triệu m³, thời gian kéo dài nhiều năm, cùng thiết kế phân khu, cao độ cụ thể, thì câu hỏi đặt ra là: liệu đây chỉ là nạo vét đơn thuần, hay đã tiệm cận bản chất của một dự án khai thác khoáng sản?

Theo các tài liệu liên quan, dung tích toàn bộ hồ chứa khoảng 18 triệu m³, trong khi diện tích mặt nước khu vực đề xuất nạo vét chỉ hơn 32 ha. Với tỷ lệ này, có thể hình dung lòng hồ mang dạng hẹp và sâu – đặc trưng của các hồ thủy điện miền núi – chứ không phải dạng lòng hồ mở rộng, nơi trầm tích có điều kiện tích tụ dày trên diện rộng.

Không chỉ vậy, Thủy điện Đakrông 4 còn nằm trong chuỗi thủy điện bậc thang trên cùng một dòng sông. Trên đoạn sông Đakrông dài hơn 50 km, từ khu vực xã A Ngo (cũ, nay thuộc xã La Lay) đến cầu treo Đakrông, hiện có nhiều công trình thủy điện được bố trí liên tiếp. Với đặc điểm này, dòng chảy không hình thành một hồ chứa lớn, liên tục, mà bị chia cắt thành các đoạn ngắn giữa các đập dâng. Nói cách khác, đây là hệ thống hồ dạng “bậc thang – nối tiếp”, nơi nước chủ yếu lưu chuyển qua từng công trình, thay vì tích tụ lâu dài như ở các hồ thủy điện độc lập quy mô lớn.

Hơn 1 triệu m³ cát ở Thủy điện Đakrông 4: Đề xuất nạo vét hay khai thác trá hình? -0
Nhà máy Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị nằm trên sông Đakrông.

Trong điều kiện như vậy, khả năng hình thành một khối lượng bồi lắng lớn, tập trung đến hàng triệu mét khối trong một lòng hồ không rộng là điều cần được xem xét thận trọng. Ở góc nhìn số học, 1 triệu m³ cát tương đương khoảng 5–6% tổng dung tích hồ khu vực đề xuất nạo vét. Đây không còn là con số mang tính duy tu thông thường, mà đã tiệm cận quy mô của một hoạt động khai thác tài nguyên. Sự tương phản giữa quy mô hồ chứa hạn chế, địa hình khe núi và cấu trúc thủy điện bậc thang – khiến dòng chảy bị chia cắt – đặt ra một câu hỏi khó bỏ qua: khối lượng cát hơn 1 triệu m³ này được hình thành từ đâu, và bản chất của hoạt động “nạo vét” là gì?

Những băn khoăn này không chỉ xuất phát từ các con số trên giấy. Bà Hồ Thị Hoa, người dân sinh sống lâu năm tại thôn Tờ Lềng, xã Đakrông – nơi có công trình Thủy điện Đakrông 4 – cho biết, trước đây khu vực lòng hồ chủ yếu là lòng sông hẹp, nước chảy theo mùa, “không thấy có bãi bồi lớn hay tích tụ cát nhiều như dưới xuôi”.

“Nghe nói nạo vét tới cả triệu khối cát thì chúng tôi cũng thấy bất ngờ. Lâu nay khu vực này nước chảy mạnh, lòng sông không rộng, nên nếu có bồi lắng thì cũng không nghĩ là nhiều đến vậy”, bà Hoa băn khoăn.

Cơ chế “đăng ký” và khoảng trống kiểm soát

Một điểm đáng chú ý khác nằm ở cơ chế thực hiện. Thay vì phải xin giấy phép khai thác khoáng sản – vốn đòi hỏi quy trình chặt chẽ từ thăm dò, đánh giá trữ lượng đến đấu giá quyền khai thác – hoạt động này lại được triển khai theo hình thức xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản trong quá trình nạo vét.

Sự khác biệt không chỉ nằm ở tên gọi. Nếu như cấp phép khai thác là một quy trình kiểm soát nhiều tầng nấc, thì cơ chế “đăng ký” mang tính đơn giản hơn, thường được áp dụng nhằm tạo điều kiện cho hoạt động tận thu trong quá trình thi công. Tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ, đây có thể trở thành “khoảng mở” dễ bị lợi dụng để hợp thức hóa việc khai thác tài nguyên dưới một danh nghĩa khác.

Không chỉ dừng lại ở cơ chế ban đầu, vấn đề còn nằm ở khâu kiểm soát trong quá trình thực hiện. Trên hồ sơ, khối lượng, phạm vi và cao độ nạo vét đã được xác định. Nhưng ngoài thực địa, những con số này sẽ được giám sát ra sao? Có hay không hệ thống cân đo độc lập tại bãi tập kết? Việc vận chuyển có được theo dõi bằng camera, nhật ký hay thiết bị giám sát hành trình? Khối lượng thực tế có được đối chiếu định kỳ? Và nếu vượt quá giới hạn cho phép, trách nhiệm sẽ thuộc về ai?

Sáng nay (23/3/2026), trao đổi với phóng viên Báo CAND, ông Lê Hoài Phong, Chủ tịch UBND xã Đakrông cho biết, đến thời điểm hiện tại, chính quyền địa phương chưa nắm bắt được thông tin về việc nạo vét lòng hồ Thủy điện Đakrông 4. “Chúng tôi không thấy họ lấy ý kiến của địa phương về việc nạo vét này”, ông Phong nói.

Trong khi đó, ông Lê Quang Lam, Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi và Phòng, chống thiên tai tỉnh Quảng Trị cho biết, năm 2025, doanh nghiệp đã đến đơn vị để xin ý kiến liên quan. Thời điểm đó, Chi cục chủ yếu hướng dẫn các thủ tục về vận hành hồ đập; còn nội dung nạo vét, thu hồi khoáng sản thuộc thẩm quyền tham mưu của Sở Nông nghiệp và Môi trường.

“Sau khi xây dựng công trình, việc bồi lắng do cát từ thượng nguồn theo mưa lũ đổ về là hiện tượng có thể xảy ra, nhưng bản thân khu vực lòng hồ không phải là mỏ cát tự nhiên. Về khối lượng, cần phải kiểm tra, đo đếm thực địa mới có thể xác định chính xác”, ông Lam nói.

Theo hồ sơ, kế hoạch nạo vét do doanh nghiệp lập, trên cơ sở được địa phương thống nhất chủ trương, sau đó được cơ quan chuyên môn thẩm định và trình xác nhận. Cách làm này giúp rút ngắn thủ tục, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về cơ chế kiểm soát độc lập. Khi đơn vị đề xuất cũng là đơn vị trực tiếp thực hiện, ranh giới giữa “thiết kế” và “khai thác”, nếu không được giám sát chặt chẽ, rất dễ bị xóa nhòa.

Trong khi đó, cát xây dựng là loại tài nguyên có giá trị kinh tế cao, tiêu thụ nhanh và khó truy vết nếu thiếu cơ chế kiểm soát ngay từ đầu.

Liên quan đến vấn đề này, ông Hồ Xuân Hòe, Giám đốc Sở Công Thương tỉnh Quảng Trị cho biết, doanh nghiệp đã thực hiện việc lấy ý kiến theo quy định. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, Sở Công Thương chỉ hướng dẫn các nội dung liên quan đến vận hành hồ chứa, an toàn điện, an toàn đập; còn việc thu hồi khoáng sản, nếu có, thuộc thẩm quyền tham mưu của Sở Nông nghiệp và Môi trường.

Không thể phủ nhận, nạo vét lòng hồ là nhu cầu thực tế nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả vận hành công trình. Tuy nhiên, khi hoạt động này gắn với việc thu hồi khoáng sản có giá trị kinh tế, với quy mô lớn và kéo dài, thì nó không còn đơn thuần là giải pháp kỹ thuật, mà trở thành một bài toán quản lý.

"Chỉ cần một mắt xích lỏng lẻo – từ xác định khối lượng, thiết kế cao độ đến giám sát thực tế – thì nguy cơ vượt ra ngoài mục tiêu ban đầu là hoàn toàn có thể xảy ra. Và khi đó, câu chuyện không còn dừng lại ở nạo vét", một chuyên gia băn khoăn.

UBND tỉnh Quảng Trị yêu cầu rà soát toàn diện cơ sở pháp lý các dự án nạo vét

Theo Tờ trình số 244/TTr-SNNMT ngày 6/3/2026, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị đề nghị UBND tỉnh xem xét xác nhận đăng ký thu hồi khoáng sản trong phạm vi kế hoạch nạo vét lòng hồ Thủy điện Đakrông 4 (xã Đakrông). Hồ sơ do Công ty TNHH Sơn Hải Thủy điện Quảng Trị lập; qua thẩm định, Sở cho rằng cơ bản đáp ứng quy định và nằm trong phạm vi dự án đã được chấp thuận.

Theo đề xuất, diện tích khu vực thu hồi khoảng 32,6 ha, chia 5 khu vực, với tổng khối lượng hơn 1,03 triệu m³ cát – xác định là vật liệu xây dựng thông thường; thời gian thực hiện 5 năm.

Trong bối cảnh hoạt động nạo vét tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng, ngày 18/3/2026, UBND tỉnh Quảng Trị đã yêu cầu rà soát toàn diện cơ sở pháp lý các dự án nạo vét theo hình thức xã hội hóa. Lãnh đạo UBND tỉnh cho biết việc rà soát nhằm đảm bảo đúng quy định và đánh giá đầy đủ các tác động liên quan.

Hiện, đề xuất này chưa được quyết định cuối cùng. Hai vấn đề cần làm rõ là: mục tiêu nạo vét phải gắn với vận hành, điều tiết hồ chứa; và cơ chế xử lý khối lượng cát thu hồi – doanh nghiệp được bán, nộp nghĩa vụ tài chính hay phải tổ chức đấu giá để tránh thất thoát tài nguyên.

Thanh Bình
.
.
.