Hồ chứa nước Bản Mồng tích nước: “Nút thắt” tái định cư và bài toán đồng thuận từ cơ sở
Cuối năm 2025, Dự án Hồ chứa nước Bản Mồng chính thức ngăn dòng, tích nước, đánh dấu bước chuyển quan trọng của một công trình thủy lợi được kỳ vọng mang lại “nguồn sống mới” cho hàng vạn người dân hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá. Thế nhưng, phía sau bước tiến ấy vẫn còn những khoảng trống đáng lo ngại: 119 hộ dân với gần 500 nhân khẩu tại thôn Thanh Sơn, xã Thanh Phong, tỉnh Thanh Hoá vẫn chưa thể di dời đến nơi ở mới, dù vùng đất họ sinh sống đã và đang dần trở thành lòng hồ.
“Ốc đảo” giữa đại ngàn và nỗi lo mùa nước lên
Thôn Thanh Sơn, trước đây thuộc xã Thanh Hòa, nay là xã Thanh Phong, nằm sâu trong vùng rừng núi, gần như tách biệt hoàn toàn với bên ngoài. Con đường độc đạo dài gần 10km nối từ đường Hồ Chí Minh (xã Xuân Bình) vào thôn là hành trình đầy gian nan. Đường nhỏ hẹp, lởm chởm đá, phải băng qua 7 con suối, mùa khô đã khó đi, mùa mưa lũ gần như bị chia cắt hoàn toàn.
Trưởng thôn Hà Văn Giới ví nơi đây là một “ốc đảo” giữa đại ngàn. Cụm từ ấy không chỉ mang tính hình ảnh, mà phản ánh đúng thực tế đời sống của 119 hộ dân với 457 nhân khẩu, trong đó 95% là đồng bào dân tộc Thái, sinh kế chủ yếu dựa vào nương rẫy, thu nhập bấp bênh. Suốt gần 16 năm kể từ khi có chủ trương xây dựng hồ chứa nước Bản Mồng, thôn Thanh Sơn thuộc diện phải di dời, nên hầu như không được đầu tư cơ sở hạ tầng. Đường sá xuống cấp, điện, nước, trường học, trạm y tế đều thiếu thốn. Việc giao thương, phát triển kinh tế vì thế càng trở nên khó khăn, khiến cái nghèo cứ đeo bám người dân.
Đáng lo hơn, từ cuối tháng 12/2025, khi hồ Bản Mồng bắt đầu tích nước, mực nước tại khu vực lòng hồ thuộc thôn Thanh Sơn đã dâng lên rõ rệt. Dù đang trong mùa khô, nhiều khu vực trũng nước đã dâng lên. Người dân nơi đây không khỏi thấp thỏm khi mùa mưa lũ đang đến gần. “Trước khi hồ ngăn dòng, chúng tôi được thông báo sẽ di dời ra khu tái định cư tại xã Xuân Bình. Nhưng đến nay, không chỉ chưa có nơi ở mới, mà tiền bồi thường cũng chưa được nhận. Nếu mưa lũ lớn xảy ra, rất khó lường hết nguy cơ”, ông Giới chia sẻ.
Thực tế, mùa mưa năm 2025, khi hồ chưa tích nước, nhiều hộ dân tại Thanh Sơn đã bị ngập sâu. Nay hồ đã vận hành, nếu việc di dời tiếp tục chậm trễ, nguy cơ mất an toàn cho hàng trăm con người là điều hiện hữu.
Dự án Hồ chứa nước Bản Mồng (giai đoạn 1) được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh chủ trương đầu tư tại Quyết định số 1248/QĐ-TTg ngày 26/10/2023. Tiếp đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) phê duyệt điều chỉnh dự án tại Quyết định số 532/QĐ-BNN-XD ngày 07/02/2024. Trong đó, riêng hợp phần bồi thường, hỗ trợ và tái định cư trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá có tổng kinh phí dự kiến hơn 516 tỷ đồng. Tổng diện tích đất thu hồi là 1.114,27 ha, gồm: 781,28 ha thuộc lòng hồ tại xã Thanh Phong và xã Xuân Bình; 332,99 ha phục vụ khu tái định cư và sản xuất tại thôn Đồng Trình, xã Xuân Bình. Khu tái định cư được quy hoạch với diện tích khoảng 18,9 ha, cùng khu sản xuất hơn 314 ha, nhằm bảo đảm sinh kế lâu dài cho người dân sau di dời. Ban đầu, dự án do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hoá làm chủ đầu tư, sau đó được chuyển giao cho xã Xuân Bình quản lý, từ khi tổ chức thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Về tổng thể, đây là công trình mang ý nghĩa chiến lược, không chỉ phục vụ tưới tiêu, phòng chống lũ, mà còn góp phần phát triển kinh tế – xã hội cho hai tỉnh Nghệ An và Thanh Hoá. Tuy nhiên, “nút thắt” lớn nhất hiện nay lại nằm ở công tác giải phóng mặt bằng phục vụ xây dựng khu tái định cư.
“Điểm nghẽn” từ tranh chấp cây cao su
Để có quỹ đất xây dựng khu tái định cư cho các hộ dân thôn Thanh Sơn, chủ đầu tư phải thu hồi diện tích đất do Công ty TNHH MTV Cao su Thanh Hoá quản lý tại xã Xuân Bình. Phần đất này liên quan trực tiếp đến 110 hộ dân đang sản xuất, trong đó có 34 hộ có hợp đồng nhận khoán trồng, chăm sóc cao su.
Vấn đề phát sinh nằm ở chỗ: trên cùng một diện tích đất tồn tại hai nhóm quyền lợi. Một bên là doanh nghiệp, được Nhà nước giao quản lý đất và tài sản cây cao su. Bên còn lại là người dân trực tiếp trồng, chăm sóc, khai thác theo hợp đồng giao khoán. Theo phương án được phê duyệt khi thu hồi đất, các hộ nhận khoán đã được hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm với tổng kinh phí gần 7 tỷ đồng, tương đương 1,5 lần giá đất. Tuy nhiên, phần cây cao su trên đất được xác định là tài sản Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý nên tiền bồi thường hơn 12,6 tỷ đồng được chi trả cho Công ty Cao su Thanh Hoá. Chính sự “lệch pha” giữa quyền lợi thực tế và cơ chế pháp lý này đã dẫn đến mâu thuẫn. Nhiều hộ dân cho rằng họ là người bỏ công sức trồng, chăm sóc suốt nhiều năm, nay bị thu hồi đất mà không được hưởng lợi từ giá trị cây là điều khó chấp nhận. Trong khi đó, phía doanh nghiệp khẳng định toàn bộ cây cao su là tài sản hình thành từ vốn Nhà nước, việc thanh lý phải hoàn trả ngân sách, không thể chia lại cho người dân. Mâu thuẫn này khiến 34 hộ dân không đồng ý bàn giao mặt bằng, kéo theo tiến độ xây dựng khu tái định cư bị đình trệ.
Theo UBND xã Xuân Bình, về cơ bản, các bước kiểm đếm, lập phương án giải phóng mặt bằng đã hoàn tất. Tuy nhiên, việc triển khai thực tế lại vướng ở khâu thanh lý cây cao su. Công ty Cao su Thanh Hoá đã được bồi thường hơn 12,6 tỷ đồng và tiến hành bán đấu giá số cây này. Song khi đơn vị trúng thầu vào khai thác thì bị người dân ngăn cản. Để tháo gỡ, ngoài khoản hỗ trợ gần 7 tỷ đồng đã chi trả, Tập đoàn Cao su Việt Nam tiếp tục thống nhất hỗ trợ thêm 2,5 tỷ đồng thông qua Hội Chữ thập đỏ tỉnh Thanh Hoá để hỗ trợ các hộ dân. Tuy nhiên, sau nhiều cuộc đối thoại, mới chỉ có khoảng gần 10 hộ đồng ý nhận tiền. Phần lớn các hộ còn lại vẫn giữ quan điểm đề nghị được hưởng khoảng 40% giá trị tài sản cây cao su theo hợp đồng giao khoán. Trong khi đó, phía doanh nghiệp khẳng định yêu cầu này không có cơ sở pháp lý.
Ông Trịnh Xuân Sơn, Phó Chủ tịch UBND xã Xuân Bình cho biết, chính quyền địa phương đang tiếp tục tuyên truyền, vận động, giải thích để người dân hiểu và đồng thuận với phương án đã được phê duyệt. Đồng thời, các lực lượng Công an, quân sự, đoàn thể cũng được huy động tham gia nắm tình hình, không để phát sinh điểm nóng.
Có thể thấy, câu chuyện tại khu tái định cư hồ Bản Mồng không đơn thuần là bài toán kinh tế hay kỹ thuật. Đó là vấn đề xã hội phức tạp, liên quan trực tiếp đến sinh kế, quyền lợi và niềm tin của người dân. Nếu giải quyết cứng nhắc, thiếu linh hoạt, rất dễ dẫn đến bức xúc, khiếu kiện kéo dài, thậm chí phát sinh tình huống phức tạp về an ninh trật tự. Ở góc độ khác, người dân cũng cần nhìn nhận rõ đây là dự án vì lợi ích chung, mang tính lâu dài. Việc chấp hành chủ trương di dời, tái định cư là cần thiết. Tuy nhiên, để họ “an cư”, thì trước hết phải bảo đảm “lạc nghiệp”, tức là có sinh kế ổn định, có sự công bằng trong phân bổ quyền lợi.

Nỗ lực giải phóng mặt bằng "sạch" cho Dự án đường sắt tốc độ cao
Không lan truyền các nội dung xuyên tạc về công tác giải phóng mặt bằng
Bài học về giải phóng mặt bằng Dự án cao tốc Bắc-Nam qua Quảng Bình