Nước thải ở Hà Nội đang gây ô nhiễm nghiêm trọng

Thứ Ba, 15/03/2005, 07:36
Sau sự cố ô nhiễm nguồn nước đặc biệt nghiêm trọng xảy ra vào cuối năm 2004, Công ty Thoát nước Hà Nội đã phải "chạy quanh" tìm giải pháp. Có một phương án được đưa ra nhằm giải quyết triệt để ô nhiễm nước sông Nhuệ là sẽ ngừng xả nước thải và toàn bộ các nguồn tiêu thoát chính của lưu vực Hà Nội vào sông Nhuệ.

Song hành với việc đóng cửa đập Thanh Liệt, 3 trạm bơm Đồng Bông 1, Đồng Bông 2 và Xuân Đỉnh sẽ ngừng vận hành. Lúc đó nước thải của thành phố được dẫn về khu vực Yên Sở và sẽ được bơm ra sông Hồng. Nhưng đó chỉ là phương án “cứu trợ” trước mắt.

Trong buổi làm việc với phóng viên Báo CAND, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hiếu Nhuệ - Phó Giám đốc Trung tâm Kỹ thuật Môi trường và Khu Công nghiệp cùng ông Đặng Dương Bình, Trưởng phòng Môi trường, Sở Tài nguyên - Môi trường và Nhà đất Hà Nội đã đưa ra lời khẳng định: "Trong khoảng 500 nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp ở Hà Nội hiện nay, mới chỉ có 40 cơ sở đầu tư hệ thống xử lý nước thải".

 

Những nhà máy như: Dệt  8/3, Dệt Minh Khai và Nhà máy Sợi rất "tích cực" đóng góp nước thải chưa qua xử lý ra sông. Tiếp đó là Nhà máy Bóng đèn Rạng Đông, Nhà máy Cao su, Công ty Pin Văn Điển, Nhà máy Phân lân nung chảy Văn Điển, Tổng Công ty Rượu- Bia - Nước giải khát... cũng là những đơn vị đứng vào hàng "đại gia" trong việc đổ nước thải ra sông. Bình quân một ngày, thành phố Hà Nội sản sinh 250.000m3 nước thải, trong đó nước thải ở các khu công nghiệp chưa qua xử lý chiếm 90.000m3.

 

Khối lượng này được chia cho sông Sét 50.000m3/ ngày; sông Lừ 60.000m3/ ngày; sông Kim Ngưu 80.000m3/ngày, số còn lại thuộc về sông Tô Lịch. Khối lượng nước này khi chảy ra các con sông đều trong tình trạng ô nhiễm nặng (căn cứ theo Tiêu chuẩn Việt Nam). Vào mùa khô, nước sông cạn khiến dòng chảy chậm, nước thải đậm đặc, bốc mùi hôi thối lan tỏa trên diện rộng.

 

Điều đó đồng nghĩa với việc, người dân sống hai bên bờ sông buộc phải hít những thứ mùi ô nhiễm. Nguy hại hơn nữa là có những gia đình sử dụng nước giếng khoan để ăn uống. Những lúc như thế, Công ty Thoát nước chỉ có một cách xử lý là phối hợp với đơn vị hữu quan, đóng cửa đập Thanh Liệt để nước không chảy về các tỉnh lân cận. Sau đó, xả nước sông Hồng vào đầu nguồn các sông Sét, Lừ, Kim Ngưu và Tô Lịch. Lúc ấy, nước từ 4 con sông được dồn về cống Yên Sở và các trạm ở đây lại bơm ra sông Hồng.

Ngoài ra còn những nhân tố khác đóng vai trò tích cực vào việc ô nhiễm môi trường. Đó là nước thải sinh hoạt của các hộ dân, thêm vào đó là bùn. Bùn là hệ quả của nguồn nước thải đen kịt và đậm đặc. Tài liệu nghiên cứu cho thấy, mỗi năm, lượng bùn ở các sông dầy lên ít nhất cũng gần 10cm. Việc nạo vét bùn ở sông nếu không được xử lý kịp thời mà cứ để lưu cữu trong nhiều năm thì quả là đáng sợ.

Sản xuất càng nhiều, ô nhiễm càng nặng

Vào thăm các nhà máy sản xuất hàng công nghiệp, tôi thấy công nhân ở đó hầu hết đều sử dụng dụng cụ bảo hộ lao động, dụng cụ chống độc được nhà máy trang bị khi làm việc. Biết rõ sức khỏe của con người quan trọng như thế, nhưng vì cái lợi trước mắt, các nhà máy cứ mặc nhiên thải những chất cặn bã có quá nhiều ô nhiễm ra môi trường xung quanh.

 

Mỗi lần cơ quan chức năng tới kiểm tra, các nhà máy lại có những lý do riêng để biện minh và đổ thừa sự ô nhiễm ấy là do lỗi của lịch sử(?!). Kết quả khảo sát mới đây của các nhà nghiên cứu môi trường cho thấy, nước thải ở các nhà máy, xí nghiệp lớn đổ ra các sông có khối lượng từ 12.000-17.000m3/ngày. Nếu lấy con số này so sánh với năm 1980 (thời điểm Hà Nội đã có hàng trăm nhà máy) thì khối lượng nước thải đã tăng lên rất nhiều. Vậy các nhà máy đổ thừa cho lịch sử ở chỗ nào?

Căn cứ theo Quyết định 64, từ nay đến năm 2007, các đơn vị có nhiều nhà máy gây ô nhiễm môi trường phải xử lý triệt để là Tổng Công ty Xi măng, 3 nhà máy; Tổng Công ty Than, 5 điểm gây ô nhiễm nghiêm trọng; Tổng Công ty Giấy, 4 đơn vị sản xuất nằm trong "kế hoạch xử lý triệt để"... Đáng chú ý nhất là Tổng Công ty Hóa chất có 9 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Xử lý ô nhiễm phải nhờ nước ngoài!

Khó khăn chung mà các tổng công ty đưa ra là thiếu nguồn vốn, từ vốn đầu tư xây dựng hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường đến tiền giải quyết chế độ cho người lao động dôi dư. Các tổng công ty cũng bày tỏ nỗi lo về chi phí vận hành cho hệ thống xử lý môi trường sẽ rất tốn kém, ảnh hưởng cạnh tranh về giá thành và chất lượng sản phẩm.

Các tổng công ty đều cho rằng, bản thân họ không thể thực hiện được các dự án cải thiện môi trường nếu thiếu sự trợ giúp về vốn và kỹ thuật, mà điều này lại phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố nước ngoài. Cuối cùng, Bộ Tài nguyên - Môi trường đã chấp nhận phương án như các tổng công ty kiến nghị. Vậy có lẽ nào việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường theo Quyết định 64 của Thủ tướng Chính phủ vẫn cứ phải chờ và... đợi.

Hiện tại, thành phố Hà Nội đang cho xây dựng hai trạm xử lý nước thải tập trung ở dạng thử nghiệm. Một trạm ở hồ Trúc Bạch có công suất 2.400- 3.000m3/ngày. Trạm thứ hai ở Kim Liên với công suất 3.400m3/ ngày. Theo dự án thoát nước thải của thành phố, từ năm 2010- 2017, huyện Thanh Trì sẽ được chọn là nơi xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung có khối lượng lớn. Vậy, từ nay đến lúc ấy, không lẽ người dân Thủ đô vẫn tiếp tục phải sống trong cảnh ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng như thế này sao?

Nguyễn Hưng
.
.
.