Xung quanh việc phát hiện phần mộ vua Lê Dụ Tông

Thứ Năm, 29/10/2009, 09:22
Vừa qua, UBND tỉnh Thanh Hóa có Công văn số 4653/UBND-VX, đề nghị Văn phòng Chính phủ, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép hoàn táng thi hài vua Lê Dụ Tông. Dù chưa có ý kiến chính thức của Thủ tướng, nhưng dư luận rất quan tâm đến sự kiện này. Chúng tôi xin cung cấp thêm cho bạn đọc về những thông tin xung quanh chuyện tìm thấy và công việc chuẩn bị hoàn táng di hài vị quân vương này.

Di hài vua Lê Dụ Tông được phát lộ như thế nào?

Cùng với lãnh đạo xã Xuân Giang (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), chúng tôi theo con đường nhỏ tìm đến làng Bái Trạch (xã Xuân Giang) để tìm hiểu về nơi đã phát lộ di hài vua Lê Dụ Tông hơn 50 năm về trước.

Nghe tin có nhà báo đến, bà con trong thôn Bái Trạch vội vã kéo nhau đến rất đông, đứng chật trong nhà, sân, ngõ của gia đình bà Đỗ Thị Kính (76 tuổi), chủ nhân khu vườn mà mọi người đều khẳng định là hiện vẫn đang còn chiếc quách lớn, dấu tích của nơi an táng vị vua.

Khu vườn rộng khoảng 100m2 nhưng không trồng mía, sắn rau cỏ xanh um như những khu vườn khác, mà chỉ có một vài cây nhãn trên nền đất gan gà bằng phẳng. Các ông Lê Văn Cường (83 tuổi), Phạm Văn Nghinh (75 tuổi), Đỗ Minh Mậu (75 tuổi), Đỗ Văn Hương (74 tuổi)… là những người cao tuổi đại diện cho bà con trong thôn, đều khẳng định với chúng tôi, đã ít nhất một lần tham gia việc khai quật mộ vua Lê Dụ Tông.

Người dân Bái Trạch khẳng định - Quách của vua Lê Dụ Tông đang còn dưới lòng đất của khu vườn này.

Từ năm 1958, ngôi mộ của vua Lê Dụ Tông tình cờ được một người nông dân tên là Đỗ Văn Lương (đã mất 3 năm trước, thọ 79 tuổi) phát hiện tại làng Bái Trạch, xã Xuân Giang hiện nay.

Vùng đất an táng vua Lê Dụ Tông xưa kia vốn có tên là Trang La Đá. Khi Bình Định Vương Lê Lợi dấy binh, một lần đi qua nơi này đã đổi tên thành Trang Bàn Thạch. Về sau, do có ba lăng mộ của các vua Lê an táng tại đây, nên còn có tên khác là Trang Ba Lăng. Đến đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp xây đập Bái Thượng, đào sông Nông giang chia tách giữa Trang Bàn Thạch, mộ phần vua Lê Dụ Tông nằm bên làng Bái Trạch (xã Xuân Giang).

Ngày trước, khu vực lăng này khá hoang vắng, chưa có nhà dân ở, nên người dân thường hay dắt trâu bò ra đây ăn cỏ. Có ba hàng bia đá dựng phía trước lăng, và dân làng chỉ gọi là "lăng" thôi, còn thì không biết lăng của ai và từ bao giờ.

Thời kỳ "tiêu thổ kháng chiến", rồi phong trào "phản phong phản đế" và nhiều biến cố khác, nên lăng bị tàn phá nhiều, mất dần dấu tích. Sau đó, một số hộ dân đến đây khai hoang, dựng nhà để ở.

Cũng là người tham gia trong việc phát hiện mộ vua Lê Dụ Tông còn có ông Đỗ Văn Như (76 tuổi), là em ruột ông Lương. Ngồi trong ngôi nhà dựng trên khu đất từng là lăng mộ vua Lê Dụ Tông, ông Như kể: "Mùa xuân năm ấy, ăn Tết xong thì anh trai tôi trồng các cây sắn làm hàng rào vườn, để sau đó đi dân công. Cuốc xuống khoảng chừng một gang tay thì thấy lưỡi cuốc bật lại, biết gặp vật cứng nên anh tôi bèn nhích ra khỏi vị trí đó một quãng, đào các hố khác. Nhưng mấy lần dịch chỗ rồi mà vẫn thấy tiếng lộc cộc, lưỡi cuốc cứ nẩy lên, anh Lương đâm hồ nghi, bèn gọi thêm anh em đến cùng đào xới cả khu xem có cái gì bên dưới. Chúng tôi đào sâu hơn nữa, thì thấy có chiếc quách lớn, đoán là mộ của vua chúa, chắc có vàng bạc châu báu chi đây, càng thêm hăm hở đào bới. Đúng lúc ấy thì cha của chúng tôi là cụ Đỗ Văn Thuật đi đâu về, thấy con cái làm chuyện động trời thì vội quát bảo dừng. Rồi cụ đi báo cáo ngay với chính quyền xã. Xã báo cáo lên huyện, huyện báo cáo tỉnh, tỉnh báo cáo Trung ương, việc tìm thấy ngôi mộ cổ ở làng Bái Trạch được lan truyền rộng rãi".

Sau khi đã cân nhắc rất cẩn thận mọi chuyện xung quanh việc khai quật mộ, cuối cùng, năm 1963, Chính phủ cũng cho phép đưa thi hài vua Lê Dụ Tông lên vì mục đích khoa học. Vấn đề quan trọng nhất là Nhà nước sẽ bảo quản thi hài vua trong điều kiện tốt nhất có thể, mặt khác tránh được những con mắt tham lam nhòm ngó vào đồ tùy táng trong ngôi mộ của một vị quân vương.

Tỉnh Thanh Hóa đề nghị hoàn táng di hài vua tại địa điểm cũ

Như đã nói trên, di hài vua Lê Dụ Tông được cấp có thẩm quyền cho phép di chuyển về Hà Nội với tư cách là "một đối tượng nghiên cứu khoa học", tức là một xác ướp cổ. Sau khi đã "hoàn thành nhiệm vụ" đóng góp vào sự phát triển khoa học của đất nước, nên UBND tỉnh Thanh Hóa đã có Công văn đề nghị được hoàn táng di hài vua Lê Dụ Tông. Nếu đề nghị này được đáp ứng, thi hài vua sẽ được đón rước về quê hoàn táng theo nghi lễ trang trọng, phù hợp các yếu tố văn hóa, xã hội, tâm linh mà không phô trương.

Công tác chuẩn bị hiện đã khá kỹ lưỡng, từ loại gỗ quan tài, trang phục cho vua, các nghi lễ cầu siêu, chiêm bái, truy điệu, rước về, trình tại Lam Kinh và an táng… Tất cả chỉ còn chờ đợi ý kiến của cơ quan chức năng quyết định.

Ông Lê Văn Tam, Anh hùng Lao động, Chủ tịch Hội đồng họ Lê Việt Nam, cho biết: "Tâm nguyện của chúng tôi vẫn là mong muốn được đưa di hài vua về hoàn táng tại quê Thọ Xuân. Vì lẽ, lúc sống, vua có công với nước, lúc trăm tuổi lại phục vụ công việc nghiên cứu khoa học suốt 45 năm rồi, đã đến lúc hoàn táng để vị vua được yên nghỉ".

Hiện nay, có mấy phương án để đưa di hài vua về quê an táng. Đưa di hài vua về bên khu vực cồn Mả Lăng (hay Mả Tổ) ở xã Xuân Quang, hoặc đưa về khu Lam Kinh, là nơi thờ cúng của các vua thời Lê sơ; hoặc xây lại phần mộ cũ bên làng Bái Trạch (xã Xuân Giang). Đối với khu vực rộng 1.200m2 tại xã Xuân Quang thì hợp với phần mộ 2 vua thời Lê Trung Hưng thành khu di tích lăng tẩm Bàn Thạch, cùng với Lam Kinh, đền vua Lê Hoàn thời tiền Lê; tạo thành thế chân vạc thuận lợi cho phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn huyện Thọ Xuân.

Phương án đưa vua về Lam Kinh cũng có ưu điểm có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, theo dư luận chung và nguyện vọng của người dân địa phương thì đây là việc tâm linh, khi vua Lê Dụ Tông tạ thế, người xưa đã cất công lựa chọn, tìm chỗ đắc địa, là khu đất ở làng Bái Trạch (xã Xuân Giang, Thọ Xuân). Thiết nghĩ, ý người xưa đã vậy, nay cháu con không nên làm khác.  

Được biết, vương triều Hậu Lê có tới 27 vị hoàng đế thuộc 28 triều vua (vì vua Lê Thần Tông hai lần lên ngôi), nhưng hiện nay mới xác định được lăng mộ của 6 vị vua, còn lăng mộ của 21 vị nữa vẫn chưa biết ở đâu.

Vì vậy, vẫn đòi hỏi rất nhiều trách nhiệm, tâm huyết trong việc tìm kiếm, tu bổ cho hệ thống lăng mộ các vua Lê để các thế hệ sau đến chiêm bái và hun đúc lòng yêu Tổ quốc.

Vua Lê Dụ Tông tức Dụ Tông Hòa Hoàng Đế, là miếu hiệu của Lê Duy Đường (1680 - 1731) đời vua thứ 23 (vua thứ 22) của nhà Lê (đời thứ 12 Hậu Lê). Ông là con vua Lê Hy Tông, được truyền ngôi từ tháng 4 năm Ất Dậu (1705), đến tháng 4 năm Kỷ Dậu (1729) thì nhường ngôi cho con là Lê Duy Phường. Ông mất vào tháng giêng năm Tân Dậu (1731), thọ 52 tuổi, ở ngôi 24 năm. Đổi hai niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705 - 1719) và Bảo Thái (1720 - 1729).

Lê Quân
.
.
.