Xôcrát, nhà đạo đức vĩ đại của nhân loại
Xôcrát (Socrate, 470-399 TCN), một trong những nhà hiền triết vĩ đại của triết học Hy Lạp cổ đại. Ông sinh ra trong một gia đình làm nghề điêu khắc đá gần Athen. Từ rất sớm, ông theo cha học nghề và thuộc sử thi Homes và các tác phẩm nổi danh của các nhà thơ khác. Khoảng 30 tuổi, ông trở thành một nhà giáo đức độ, dạy học nhưng không lấy học phí. Cuộc đời ông dành nhiều thời gian cho hoạt động ngoài đường phố, chợ búa, sân vận động, quán rượu v.v.
Ông rất thích tranh luận với mọi người về nhiều đề tài khác nhau từ chính trị đến đạo đức, nghệ thuật. Ông cũng đã từng ra trận chiến đấu 3 lần và cứu được nhiều đồng đội. Đến 40 tuổi ông trở thành người nổi tiếng khắp Athen và được tham dự hội nghị 500 người (hội nghị của những người có uy tín để quyết định những việc trọng đại của Athen).
Để trở thành công dân của Nhà nước Athen, ngay từ lúc 18 tuổi ông đã phải phấn đấu để được xã hội thừa nhận. Theo sự phân cấp giàu nghèo của xã hội đương thời thì gia đình ông được xếp ở đẳng cấp cuối. Toàn bộ tài sản của ông có giá trị khoảng 5 min, tức không bằng một nô lệ tốt khi đó, hoặc kém xa một con ngựa tốt là 12 min. Song ông lại rất thờ ơ trong việc cải thiện đời sống vật chất của mình. Cả cuộc đời mình ông luôn bị cuốn hút bởi lẽ sống cao cả làm người đốt đuốc giữa ban ngày để đi tìm chân lý, ngoài ra ông không để tâm đến những việc khác. Xôcrát đã để lại nhiều đóng góp cho tư tưởng nhân loại, đặc biệt là trong học thuyết về đạo đức mà trong đó tri thức giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Trong cuộc đời mình, Xôcrát luôn tìm cách quảng bá các quan niệm đạo đức của mình bằng cách giao tiếp với đông đảo quần chúng tại rất nhiều các ngõ ngách của Athen. Hoạt động này dần dần thu hút sự quan tâm của nhiều người dân và có sự ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của xã hội đương thời và cũng gây ra sự tức tối của những công dân thuộc đẳng cấp giàu có. Và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến cái chết bi kịch của ông.
Nhiều nhà triết học Cổ đại Hy Lạp quan niệm rằng, con người là một vũ trụ thu nhỏ. Xôcrát đã tích cực tiếp nối tư tưởng trên, bằng cách nhận thức chính bản thân con người thông qua sự giao tiếp. Ông là người rất thích tranh luận với bất kỳ ai nhằm tìm kiếm chân lý. Nhiều khi, do đuối lý, những kẻ tranh luận đã nhục mạ ông, thậm chí đánh đập ông. Song ông vẫn chấp nhận tất cả mà không chống lại. Bởi vì, theo ông, nếu cố chấp thì chẳng khác gì, khi "con lừa húc tôi, lẽ nào tôi lại đưa nó ra toà?".
Ông coi việc nhận thức con người thông qua giao tiếp là rất quan trọng. Tiến trình giao tiếp có sự tác động qua lại về mặt tinh thần giữa những người đối thoại. Vì thế, cần tổ chức quá trình nhận thức thông qua sự giao tiếp một cách khéo léo để không dẫn đến sự đổ vỡ. Tranh luận như thế, không phải là cãi nhau mà mục đích của nó là để tìm ra chân lý đúng như nguyên nghĩa từ phép biện chứng ở thời Cổ đại. Một sự đối thoại như vậy không thể tự diễn ra một cách ngẫu nhiên mà phải có sự nỗ lực để xây dựng phương pháp nhằm bảo đảm cho sự giao tiếp diễn ra phù hợp cho mục đích của cuộc đối thoại.
Trong giao tiếp - theo Xôcrát - nhất thiết không được giáo huấn người khác (một dạng thức kiêu ngạo được che đậy như là sự lễ độ). Vì khi cảm nhận được thái độ kiêu ngạo của đối phương, người đối thoại sẽ co mình lại, phòng thủ khiến cho quá trình giao tiếp và nhận thức tiếp theo sẽ diễn ra rất khó khăn và có nguy cơ thất bại.
Thông qua giao tiếp con người cũng tự nhận thức ra bản thân mình và người đối thoại như là cái gương đặc biệt giúp chỉnh lý những suy nghĩ của mình. Quan niệm như vậy về quá trình giao tiếp - nhận thức đã tiến sát đến phương pháp đối thoại nổi tiếng, được coi như một phần quan trọng trong phép biện chứng của Xôcrát.
Là người không đề cao vật chất. Đồng thời ông cũng không coi sự bần cùng là cơ sở của đạo đức, hơn thế ông cũng không phải là người sống khắc kỷ. Coi sự kiềm chế là đức hạnh quan trọng nhất, đó chính là sự kế tục thái độ ôn hoà mà các nhà thông thái Hy Lạp trước đó từng ca ngợi.
Không màng danh vọng hay của cải vật chất, khi nhìn thấy hàng hóa ở chợ, ông nói: "Có biết bao thứ mà có thể sống thiếu chúng". Vì không quan tâm đến những kẻ ngạo mạn, ngu dốt nhưng hay chế nhạo người khác nên ông được người đương thời coi là kẻ thông thái hơn người khác.
Theo ông, việc làm chủ sự thông thái tự thân nó cho phép dễ dàng làm chủ sự thông thái trong các lĩnh vực khác. Đó cũng là cách tiếp cận của ông với các khái niệm chung như: cái thiện và cái ác, cái xấu và cái đẹp v.v. Con người là một trong những vấn đề trung tâm của các triết thuyết triết học, trong đó có học thuyết đạo đức của Xôcrát. Con người là một thực thể sinh vật - xã hội thường xuyên tìm kiếm, kiểm tra và thử nghiệm chính bản thân mình. Theo Xôcrát: "Thiếu sự thể nghiệm thì cuộc sống không còn là cuộc sống dành cho con người"
Trong học thuyết đạo đức, Xôcrát nhấn mạnh sự có mặt của tâm hồn như là dấu hiệu quan trọng nhất của bản tính con người. Theo ông, tâm hồn như là năng lực tự ý thức, tự đánh thức, tự khẳng định mình, do nó tồn tại và hoạt động tự thân. Ông coi thể xác như là phương tiện để thực hiện các hành vi cụ thể của con người.
Bản chất con người là không phụ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài. Mọi cái bên ngoài như của cải, địa vị hay thể xác, trí tuệ là không tồn tại đối với con người. Cái bên ngoài khi không được con người xem xét và không có quan hệ với con người thì chỉ được coi là cái hư vô, trống rỗng. Thế giới nội tâm là không thể thủ tiêu được, nên nó không phụ thuộc vào cái bên ngoài. Xôcrát nói: "... tôi chỉ làm những gì tôi thích và thuyết phục mỗi người trong các bạn, người trẻ và người già, hãy quan tâm sớm hơn và mạnh mẽ hơn không phải đến cơ thể hay tiền bạc mà đến tâm hồn các bạn để nó trở nên tốt nhất" và: "không phải tiền bạc sinh ra lòng dũng cảm, mà lòng dũng cảm sinh ra tiền bạc và nhiều của cải khác cho con người, cả trong cuộc sống riêng tư lẫn trong cuộc sống xã hội".
Như vậy, theo ông nỗ lực của trí tuệ - đạo đức là để bảo vệ thế giới nội tâm, biểu hiện cho sự quan tâm đến tâm hồn con người. Hành vi đạo đức, hợp lý là biểu hiện của hạnh phúc, khi đó của cải sẽ đem đến sự thoả mãn. Để làm được điều đó, lý tính con người phải hạn chế các dục vọng, thông qua lý tính con người có quyền lực với chính mình. Khái niệm tâm hồn được coi là đóng góp của Xôcrát, chính vì thế: "Nhờ phát hiện này, Xôcrát đã tạo ra một truyền thống đạo đức và trí tuệ nuôi dưỡng châu Âu cho đến ngày nay". Đó chính là sự ghi nhận của những nhà tư tưởng khi nghiên cứu học thuyết triết học của ông.
Theo Xôcrát, tâm hồn có cấu trúc đơn giản, với năng lực cơ bản là lý tính. Đối lập với lý tính là những dục vọng, xúc cảm sinh ra từ thế giới bên ngoài tác động đến cơ thể. Trong quan niệm về tâm hồn, ông không hề nói đến trái tim, ý chí hay niềm tin. Do cách tiếp cận tâm hồn từ lý tính bỏ qua những dục vọng hay lợi ích nên tâm hồn được hình dung là cái đẹp đẽ, tinh khiết, thoát khỏi cái tầm thường. Cảm xúc hay dục vọng là cái lôi kéo con người theo các hướng khác nhau, đe dọa sự cân bằng của tâm hồn. Còn lý tính là năng lực suy luận của tư duy có lôgíc về tính hợp lý hay là sự nhất quán.
Vì thế, lý tính được Xôcrát coi là cội nguồn của sự tự chủ (tự do) hay là quyền lực đối với bản thân trước những cám dỗ tự phát của dục vọng hay cảm xúc. Như thế, người tự do là người biết cách điều khiển và hạn chế các dục vọng. Đây là cách hiểu hoàn toàn đúng đắn mà đạo đức học hiện đại phải tiếp tục kế thừa và phát triển.
Theo Xôcrát: "Phải chăng mỗi người cần phải thấm nhuần tư tưởng cho rằng sự kiềm chế là cơ sở của đức hạnh, và trước hết cần phải có nó trong tâm hồn? Và trên thực tế, thiếu nó thì ai có thể có được những tri thức hữu ích nào đó hay có được thói quen kiềm chế? Nô lệ nào của những khoái cảm mà lại không đưa cả cơ thể lẫn tâm hồn tới trạng thái nhục nhã?".
Ông quyết liệt chống lại thói hám tiền vì cho rằng, ai đã nhận tiền của người đầu tiên gặp mặt thì sẽ biến người đó thành chủ nhân của mình và mình bị biến thành nô lệ của người đưa tiền. Tự do là kỹ năng điều chỉnh bản thân mình, nhờ đó lý tính luôn làm chủ được thể xác.
Theo Xôcrát, lý tính có thể xác lập được độ hay giới hạn của các khoái cảm, ngăn chặn con người có thể làm hay không làm một điều gì đó. Người tự do, người thông thái là người xác lập được độ hợp lý cho các hành vi của mình và tuân thủ nó. Như vậy, khi con người tự do trong tâm hồn, sẽ làm chủ được các hoạt động của bản thân và người anh hùng là nhà thông thái chiến thắng được kẻ thù từ bên trong tâm hồn mình.
Là người rất giỏi tranh luận với người khác về nhiều lĩnh vực nhưng trong đời thường, ông dường như "thúc thủ" trước bà vợ chua ngoa của mình. Khi bạn bè ái ngại cho ông trước sự lấn lướt của bà vợ lắm lời, thì ông lại bình thản nói: "Tôi quen rồi, giống như nghe quen tiếng kêu cạc cạc của con vịt". Bạn ông nói: "Vịt còn đem lại cho ông trứng và vịt con". Xôcrat đáp: "Thì vợ tôi mang lại đàn con cho tôi". Và ông đưa ra triết lý khá thú vị: "Lấy vợ là công việc lớn. Nếu lấy được người phụ nữ tốt, bạn sẽ là người hạnh phúc. Nếu lấy phải người phụ nữ không tốt bạn sẽ trở thành nhà triết học", và "Hôn nhân là một trường học lớn, nam giới mất đi học vị thạc sỹ thì phụ nữ lại được học vị đó".
Khi Xôcrat bị các thế lực xấu, đổ tội cho ông là không kính trọng thần thánh và bắt giam vào ngục, nhưng ông không khuất phục, mà tự coi mình đang thực hiện mệnh lệnh của thần thánh. Toà án tức tối kết án ông tử hình.
Trong thời gian giam giữ, bạn bè ông đã hối lộ cai ngục để ông chạy thoát, nhưng ông không chịu vượt ngục mà khẳng khái nói: "Chấp hành luật pháp là yêu cầu cơ bản của công bằng, cho dù bị xử sai thì thà đi tới chỗ chết chứ quyết không chạy trốn, vì như vậy là đi ngược lại tín ngưỡng của mình".
Một buổi tối tháng 6 năm 399 TCN, ông bị hành quyết. Với bộ quần áo nhàu nát, đi chân trần nhưng nét mặt rất bình thản. Một người bạn nói: "Tôi không chịu nổi khi thấy anh bị toà án bất công xử tử". Xôcrát trả lời: "Lẽ nào anh lại muốn thấy một toà án công bằng xử tử tôi".
Sau đó, ông đuổi vợ con và họ hàng thân thích ra để ông trò chuyện cùng bạn hữu. Khi cai ngục đưa bát thuốc độc vào, một người bạn đưa cho ông một chiếc áo khoác mới rất đẹp để ông mặc. Ông bình thản từ chối: Cái này là để khoác lên lúc tôi còn sống, chứ không phải mặc vào lúc tôi đã chết".
Trước khi uống thuốc độc, ông nhờ một người bạn trả hộ ông tiền một con gà mà ông đã ăn nhưng chưa trả. Và ông ra đi một cách thanh thản. Sau khi Xôcrát qua đời, dân thành Athen cảm thấy hối hận về hành vi của mình, họ đã xử chết Melơto, người đã vu cáo ông và lưu đầy mấy kẻ vu cáo khác. Cái chết của ông được coi là sự kiện trọng đại, cảnh tỉnh cho nhân tính và nền dân chủ, là sự kiện văn hoá trọng đại của lịch sử
Tài liệu tham khảo1, Platôn, Biện minh cho Xôcrát, Tuyển tập, tập 1. Matxcơva, 1982. >
2. Gi. Reale, D Antisen. Triết học phương Tây từ cội nguồn cho tới nay, phần 1. Matxcơva, 1997.>
3. Ksenôphôntơ. Những hồi tưởng về Xôcrát, Matxcơva, 1993.
4. A. Lôsép, Cuộc đời và sự nghiệp sáng tạo của Platôn, Matxcơva, 1982.
5. Đặng Nguyên Minh. Triết học thế giới nên biết, NXB. Lao động - xã hội 1987.
