Xin đừng bới “rác” thời gian tìm… kiệt tác

Thứ Hai, 15/05/2006, 14:12
Bất kỳ ai làm công việc sáng tạo nghệ thuật hẳn đều biết một thực tế: Để định vị giá trị đích thực của một tác phẩm thì thời gian và công chúng là người phán xét công bằng và vô tư nhất. Ấy vậy mà những năm trở lại đây, trên báo chí xuất hiện xu hướng "phục cổ". Và việc làm này có phần bị lạm dụng.

Bất chấp việc thời gian đã phủ bụi lên những tác phẩm không còn sức sống, một ngày nào đó vô tình lật giở những trang báo cũ, họ chợt phát hiện thấy một tác phẩm (ở đây xin gói gọn trong lĩnh vực thơ ca) không có mặt trong những tập sách đã được xuất bản của một tác giả nổi tiếng nào đó. Vậy là, chẳng mấy đoái hoài đến giá trị thật của bài thơ, để gây sự chú ý, họ hô hoán lên là đã phát hiện ra những "kiệt tác bị quên lãng".

Dĩ nhiên, sẽ là việc làm ít nhiều có ý nghĩa nếu trường hợp bài thơ đó là của một nhà thơ tài hoa nhưng yểu mệnh, từng sống cuộc đời tứ cố vô thân, bản thân bài thơ lại xuất hiện trên một ấn phẩm có phần khuất lấp, ít người đọc. Hoặc giả, vào thời tao loạn, khói lửa binh đao, là những yếu tố có thể khiến những tác phẩm có giá trị nghệ thuật bị rơi vào quên lãng.

Song thực tế, bằng vào những gì tôi đọc thấy trên các trang báo, thì cái gọi là "phát hiện" ấy đại đa phần chỉ có tác dụng làm cho những tác phẩm ấy "bừng tỉnh" trong chốc lát rồi sau đó lại tiếp tục rơi vào "cơn ngủ" triền miên của những tác phẩm vốn không có sức sống lâu bền trong tâm trí độc giả. 

Ở đây xin kể vài ví dụ.

Cách đây ít năm, trên một tờ báo phát hành rộng rãi ở miền Bắc, một nhà phê bình văn học đã cho công bố một bài thơ được coi là "phát hiện mới" về Nguyễn Bính. Đây là một bài thơ thuộc dạng tầm phào, làm trong lúc chén tạc chén thù của Nguyễn Bính và thuộc trong số hàng trăm bài mà thi nhân không một lần nhắc lại của mình. Ấy vậy mà nhà phê bình nọ vẫn "bạo tay" xếp nó vào mục "Thơ chọn trong thế kỷ".

Theo dõi vụ việc này, tôi thấy từ bấy đến nay, các tác tuyển tập thơ Nguyễn Bính được in lại tơi tới, số lượng hàng trăm ngàn bản, nhưng không thấy ai chọn đưa bổ sung bài thơ "thế kỷ" này vào. Bản thân tôi cố lắm cũng chỉ nhớ lõm bõm ở bài thơ ấy một câu "Tình ta là đến đây là... là thôi" nghe rất nôm na vậy thôi.

Vào dịp Tết Ất Dậu (2005), cũng một tờ báo có trụ sở chính ở Hà Nội đã cho đăng bài viết giới  thiệu lại với bạn đọc bài thơ "Tình thủ đô" của nhà thơ Hữu Loan sáng tác trong kháng chiến chống Pháp. Theo tác giả bài báo cho biết thì khi ông đọc cho một phóng viên trẻ nghe bài thơ nói trên mà ông cho là "một kiệt tác bị lãng quên...; chưa từng được đưa vào bất kỳ tuyển tập thơ Việt Nam nào từ trước tới nay", ông đã "khựng lại, không sao nhớ tiếp được"! Ông phải liên hệ với một người bạn và hai người đã phải đánh vật "mấy ngày liền" mới chắp nối được bài thơ. Bài thơ sau đó được phóng viên nọ chuyển tới nhà thơ Hữu Loan để ông... chỉnh lý lại.

Chúng ta đều biết, Hữu Loan là tác giả một số bài thơ ghi dấu ấn sâu đậm trong thơ ca kháng chiến như "Màu tím hoa sim", "Đèo Cả"... Nhưng ông viết rất ít (đến 80 tuổi cũng mới chỉ có một tập thơ được xuất bản), cho nên hẳn ông cũng không dám "vung vãi" đến độ bỏ rớt bao năm một bài thơ được coi là "kiệt tác" thế kia. Vả chăng, bài thơ có nội dung rất cách mạng, cho nên cũng không thể có chuyện nó ít được in lại vì các nhà biên tập "ngại" hoặc "sợ". Lý do nó không được nhắc lại chỉ có thể vì... chính nó.

Từ câu chuyện trên, tôi bỗng liên hệ tới việc một tờ báo cách đây không lâu đã - như một "phát hiện" - cho công bố lại những ý kiến tranh luận về thơ Nguyễn Đình Thi tại Việt Bắc năm 1949, với kết luận cho rằng những lời phê phán thơ Nguyễn Đình Thi thời điểm ấy là quá quắt. Kèm đó người biên soạn cho công bố "bản gốc" những bài thơ "Không nói", "Đường núi", "Đất nước".

Điều đáng nói là đọc những "bản gốc" này, ta thấy nó rất khác với những bài thơ sau này được Nguyễn Đình Thi chỉnh sửa lại. Như bài "Đất nước" lúc ấy được tác giả đặt tên là "Sáng mát trong như sáng năm xưa" và chỉ có ít câu mà thôi. Cả ba bài này, xét về chất lượng đều không thể so được với những bản mà Nguyễn Đình Thi viết lại. Và thực tế, hiện nhớ về những bài thơ ấy là độc giả nhớ về những bản đã được tác giả kỳ công sửa chữa. Cho nên, xem việc công bố những "bản gốc" đó như một "phát hiện đặc biệt" kỳ thực là những việc làm không mấy ý nghĩa.

Như vậy, điều mà chúng ta cần rút ra ở đây là cần thận trọng hơn nữa khi công bố những điều mà chúng ta cho là "phát hiện, khám phá". Chí ít thì trước đó, phải tự đặt cho mình câu hỏi: Vì lẽ gì mà những bài thơ (hoặc bản nhạc, hoặc bức vẽ, hoặc mẩu chuyện...) ấy không được nhắc đến, không được các tác giả đưa vào các sách tuyển của mình. Đặc biệt, phải có con mắt của một nhà phê bình nghiêm khắc khi soi vào những tác phẩm đó. Điều cuối cùng, trên tất cả là chúng ta phải tôn trọng những gì thời gian đã sàng lọc. Đúng là có nhiều tác phẩm bị "đời hồ như quên hẳn". Nhưng đó là vì đời còn nhiều cái đáng nhớ hơn mà thôi

.
.
.