Về tính khoa học trong tiếp nhận, phê bình văn học

Chủ Nhật, 03/01/2010, 10:40
Sự vận dụng mở rộng các phương pháp khoa học để tiếp nhận văn học rõ ràng là một tiến bộ của tinh thần lý tính khoa học trong văn học hiện đại để tạo điều kiện thuận lợi và những công cụ sắc bén giúp người đọc và phê bình văn học tiến sâu thêm vào thế giới sáng tạo ngày càng phong phú, phức tạp của văn học nghệ thuật.

Mỗi loại hoạt động tinh thần của con người đều có đặc trưng tư duy riêng biệt. Loài người không hề uổng phí khi sinh ra văn học nghệ thuật từ hơn 2.500 năm nay bên cạnh các hình thái tinh thần khác, do đặc trưng loại hình của kiểu tư duy của nó, văn học nghệ thuật có thể giúp con người giải đáp những bài toán cuộc sống phức tạp mà các dạng hoạt động tinh thần khác chưa giải đáp được.

Ý kiến của Marx về vấn đề này là một quan điểm khoa học mà chúng ta thường "sơ ý" bỏ quên: "Sẽ hoàn toàn không đúng nếu lấy một loại hình nào đó làm thước đo, tiêu chuẩn, môi trường của tất cả các loại hình khác". Và do đó - vẫn theo ý Marx - không thể bắt một loại hình này "phải từ bỏ chính mình" và chỉ được phép làm "chư hầu" cho một loại hình nào đó được. (Trong sách Về văn học nghệ thuật, NXB Sự thật, H.1977, tr.63).

Đọc văn học như đọc một nghệ thuật là đặc tính, là tiêu chí loại hình của kiểu tư duy phê bình và tiếp nhận trong văn học hiện đại. Nó là quy luật bảo đảm cho sự tồn tại đích thực của phê bình và tiếp nhận văn học. Thoát ly đặc tính loại hình này, đọc văn học theo những chỉ hướng của các kiểu tư duy khác là dẫn phê bình và tiếp nhận văn học vào con đường "tha hoá" (hiểu theo nghĩa triết học) - tức là biến văn học từ một nghệ thuật thành một thứ ngoài phạm vi nghệ thuật, tức là phi nghệ thuật.

Đặc điểm loại hình của kiểu tư duy khoa học trong phê bình và tiếp nhận văn học nói đó hoàn toàn không tương phản, đối lập với các dạng tư duy khác mà có sự liên lạc biện chứng với nhau trên tinh thần lý tính khoa học. Bởi vì, văn học nghệ thuật như là đối tượng của phê bình, tiếp nhận vốn là một sản phẩm đặc biệt kết tinh từ một hiện thực xã hội tổng hoà các quan hệ chính trị, pháp luật, kinh tế, đạo đức, lịch sử, tôn giáo… được khúc xạ qua ý thức văn hoá thẩm mỹ, cá tính sáng tạo độc đáo của nhà văn mà thành.

Do đó, khi nói đọc văn học như đọc một nghệ thuật cũng tức là phải đọc cái sản phẩm tổng hoà các kiểu quan hệ kia. Vậy, muốn đọc văn học như đọc một nghệ thuật, nhà phê bình và người đọc hiện đại không thể khước từ sự hiểu biết các dạng hoạt động tinh thần, ý thức, vật chất của con người trong bối cảnh xã hội đồng thời với chủ thể sáng tác và chủ thể tiếp nhận văn học.

Từ yêu cầu đọc văn học như đọc một nghệ thuật, người ta cần đến một hệ thống phương pháp tư duy lý tính hiện đại của phê bình và tiếp nhận mà bước đầu xin nêu mấy điểm sau:

Thứ nhất, ở các cấp độ khác nhau, thế giới nghệ thuật của văn học là thế giới của sự sống tinh thần mang tính chỉnh thể toàn vẹn. Tư duy nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận văn học hiện đại chống lại kiểu tư duy chia cắt một yếu tố, một chi tiết thuộc một chỉnh thể nghệ thuật nào đó khỏi các liên hệ cộng hưởng - như là những quy luật đã tạo ra sự sống của thế giới nghệ thuật toàn vẹn - để xem xét và phán quyết yếu tố ấy một cách cô lập. Bằng cách tư duy phản biện chứng này có thể "giết chết" một đời văn, huỷ hoại một giá trị nghệ thuật chân chính.

Xin giả định một trường hợp, khi đọc bài thơ Màu tím hoa sim của Hữu Loan, tôi chú mục vào ba câu thơ mà theo tôi là đặc biệt có vấn đề, và tôi tiến hành cuộc "phẫu thuật" theo ý đồ chủ quan của tôi: cắt ba "tế bào" - câu thơ đó ra khỏi sinh thể của tác phẩm và tôi đưa chúng vào "kính hiển vi" của tôi, tôi phán xét tác giả là tuyên truyền một tâm lý bi quan, tiêu cực có hại cho kháng chiến, v.v. và v.v… Đó là ba câu thơ: … "Lấy chồng đời chiến chinh,/ Mấy người đi trở lại/ Lỡ khi mình không về thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê"…

Thoạt nhìn tưởng là tôi có lý. Nhưng thực ra tôi đã cắt "ba đốt tay" ra khỏi "cơ thể" của bài thơ. "Ba đốt tay" - theo cách nói của các nhà thi pháp học - đã "mất máu". Dòng máu tươi đỏ của sinh mệnh nghệ thuật của bài thơ đã hoàn toàn không còn chảy trong ba tế bào đó nữa. Sau đó, tôi tự thấy mình lầm. Nếu mình xét ba câu thơ ấy trong các liên hệ cộng hưởng của chỉnh thể tác phẩm thì mới thấy ba câu ấy là một điểm nhấn của thế giới nghệ thuật toàn vẹn chỉ có ý nghĩa làm nổi nét chiều sâu của ý thức văn hoá và nhân bản trong tâm hồn người lính cách mạng mà những người của phía bên kia do không hiểu hoặc cố tình không hiểu đã từng rêu rao: người cộng sản không có gia đình, vợ con chi hết. Và tôi thật sự hối hận, mình đã làm một việc tiếp tay cho phía bên kia, nói như dân gian là "nối giáo cho giặc" đâm vào chính mình, làm tổn thương phía bên mình.

Thứ hai, người đọc, nhà phê bình trong văn học hiện đại luôn có ý thức nắm vững đặc trưng loại hình nghệ thuật của hiện tượng văn học mình đang tiếp nhận. Mỗi hiện tượng văn học hiển nhiên thuộc vào một loại hình nghệ thuật nào đó. Một trường phái, một trào lưu, một loại thể… đều có tính loại hình đặc trưng của nó. Trong hoàn cảnh xã hội, lịch sử phức tạp của thế kỷ XX, mỗi hiện tượng, mỗi thành phần văn học lại xuất hiện từ những tiểu môi trường văn hoá của nó trong môi trường văn hoá chung của văn học hiện đại Việt Nam.

Do đó, một mặt trong tính chỉnh thể chung của nền văn học hiện đại phải chấp nhận hiện tượng đa thành phần như một hiện tượng tất yếu: thời kỳ trước năm 1945 có thành phần văn học cách mạng (lưu hành trong bí mật) lại có thành phần văn học hợp pháp (lưu hành công khai) trong đó bao hàm nhiều trường phái, xu hướng nghệ thuật khác nhau. Đến mỗi dòng, mỗi khuynh hướng này đâu đã phải thuần nhất. Lại có văn học trong nước, văn học hải ngoại; có văn học viết bằng tiếng Việt quốc ngữ và văn học viết bằng các thứ tiếng nước ngoài…

Sau 1945, bên cạnh văn học cách mạng và kháng chiến là dòng chủ lưu, còn có thành phần văn học viết trong các đô thị tạm chiếm thời kỳ 1945-1954 và 1954-1975, bao hàm trong đó chiều hướng tích cực và tiêu cực, lạc hậu cũng có. Từ đổi mới 1986 đến nay còn tiếp tục xuất hiện nhiều khuynh hướng nghệ thuật cách tân khác, kể cả hậu hiện đại để mở đường hội nhập với văn học thế giới… Giới hạn của một bộ phận trong tư duy phê bình văn học trước đổi mới (1986) chính là sự xem nhẹ tính khoa học của phương pháp, nghĩa là xem nhẹ đặc trưng loại hình nghệ thuật của văn học hiện đại và của các thành phần văn học khác trong chỉnh thể lớn này.

Đôi khi, nhà phê bình sử dụng chuẩn đánh giá của một thành phần văn học làm thước đo, tiêu chuẩn, môi trường để đánh giá các thành phần văn học khác vốn rất khác nhau về mặt loại hình nghệ thuật và do đó dẫn đến hệ quả là - nói như GS Trần Đình Sử - "hầu như đã phủ nhận hoàn toàn giá trị" của các thành phần, trào lưu, dòng hướng khác của văn học hiện đại. Tình hình này đến đầu thế kỷ XXI vẫn tiếp tục xảy ra. GS Trần Đình Sử phê phán các nhận định phủ nhận đó là "một số nhận định ở đây chưa đúng thực tế".

Điều này cũng đúng, nhưng chúng tôi xin được nói thêm cho rõ hơn: các nhận định phê bình kiểu như vậy của một thời và hiện nay còn thiếu lý tính khoa học, bởi vì hầu như không quan tâm đến tính loại hình đặc trưng cho mỗi thành phần nghệ thuật, và dường như cách tư duy đó, xét cho cùng không phải là nếp tư duy khoa học theo chủ nghĩa duy vật lịch sử Marx - Lenin.

Thứ ba, văn học hiện đại nói riêng và văn học nói chung đều có một tính năng động nghệ thuật, mặc dù tính này ở văn học hiện đại về cơ bản khác với văn học trung đại. Ở đây chỉ nói từ đặc điểm của một đối tượng luôn năng động, biến đổi và phát triển, tư duy phê bình và tiếp nhận văn học cũng phải có những yêu cầu mang tính khoa học tương thích với đặc điểm đó của đối tượng.

Một hiện tượng nghệ thuật hiện đại phải được nhìn như một đại lượng khả biến, một thực thể đang vận động. Trong khi, phê bình, tiếp nhận văn học thời trung đại chú trọng nhiều hơn tới các yếu tố bất biến, yên tĩnh, ổn định của sáng tác mà ít quan tâm tới các yếu tố khả biến, sáng tạo trong tư duy của nhà văn.

Đến văn học hiện đại, với tư cách là đối tượng của phê bình, tiếp nhận sẽ làm đảo ngược vị thế của hai bình diện nói trên trong tư duy của nhà nghiên cứu, phê bình và người đọc. Tư duy sáng tạo, xem xét văn học như những hiện tượng khả biến được đặt lên bình diện số một, ưu tiên. Từ đó mới có phương pháp thật sự biện chứng để nhìn văn học trong sự tiến hoá lịch sử.

Nhưng sự vận động của tiến trình văn học không nên hiểu máy móc là bao giờ cũng theo quy luật đi lên. Từ giai đoạn này sang giai đoạn khác có những phương diện của văn học nghệ thuật có biểu đồ vận động đi lên, nhưng cũng có phương diện sẽ không còn được như giai đoạn trước đó, để rồi đến một giai đoạn tiếp theo phía sau nó lại vận động theo một biểu đồ khác…

Trong tư duy phê bình, tiếp nhận văn học thời hiện đại, ngoài việc vận dụng các phương pháp tư duy của khoa học xã hội nhân văn như: phương pháp xã hội - lịch sử, phương pháp tâm lý học, phân tâm học, phương pháp ngôn ngữ học…, người ta còn vận dụng phương pháp tư duy, các khái niệm của khoa học tự nhiên và kỹ thuật khác. Nếu cách đây ba mươi năm, một công trình nghiên cứu hay một tiểu luận phê bình văn học có đưa vào mấy con số thống kê các yếu tố nghệ thuật của tác phẩm, lập tức đã có người lên án và cho đó như là một thứ tư duy bệnh tật, bệnh máy móc, cơ giới, không có chỗ trong tư duy văn học nghệ thuật.

Thế nhưng, từ giữa những năm 80 (thế kỷ XX) trở đi, và càng về sau càng xuất hiện phổ biến phương pháp thống kê toán học để định lượng các yếu tố lặp lại, nhằm xác định tần số (khái niệm vật lý học) của chúng, để lý giải các ám ảnh nghệ thuật trong tác phẩm. Đó mới chỉ là một ví dụ.

Sự vận dụng mở rộng các phương pháp khoa học để tiếp nhận văn học rõ ràng là một tiến bộ của tinh thần lý tính khoa học trong văn học hiện đại để tạo điều kiện thuận lợi và những công cụ sắc bén giúp người đọc và phê bình văn học tiến sâu thêm vào thế giới sáng tạo ngày càng phong phú, phức tạp của văn học nghệ thuật

Lê Văn Tùng
.
.
.