Về sự "ghét nhau" giữa Tam Nguyên Yên Đổ và Chu Mạnh Trinh
Ngày 22/4 vừa qua, sau hàng chục năm gián đoạn, lễ hội truyền thống của Phố Hiến lại được long trọng tổ chức. Những nét đặc sắc và lý thú của vùng đất từng lừng lẫy một thuở "thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì Phố Hiến" đã được sống lại trong các hoạt động văn hóa dân gian trong ngày lễ hội.
Những giai thoại văn chương ý nhị về những tao nhân mặc khách một thời tinh hoa của vùng đất giàu truyền thống chữ nghĩa này cũng đã được gợi về.
Đi bên hồ Bán Nguyệt giữa lòng thị xã Hưng Yên, bỗng lại nhớ tới câu chuyện xảy ra ngót trăm năm trước giữa danh sĩ xứ nhãn lồng Chu Mạnh Trinh với nhà thơ lớn Nguyễn Khuyến. Câu chuyện đó cũng đã bắt đầu từ hồ Bán Nguyệt.
Có lẽ không ở thị xã nào trên đất nước ta lại có một gương hồ mang hình trăng khuyết ở ngay trung tâm như Phố Hiến.
Đồn rằng, xưa kia đó cũng là một đoạn sông Hồng còn sót lại ở thị xã Hưng Yên, sau bao nhiêu thương hải tang điền. Khoảng hơn nghìn năm trước, một nhánh sông Hồng đã mênh mông dữ dội chảy từ Đằng Châu qua cửa Càn, xuống cống Vân Tiêu rồi mới đổ nước vào sông Luộc.
Thời cuộc biến thiên, phù sa dần trầm tích tạo nên Phố Hiến và từ đoạn sông cũ chỉ còn lại những đầm hồ, mà hồ Bán Nguyệt là một trong số đó.
Không cần phải là một tao nhân mặc khách, khi tới Phố Hiến cũng có thể nhận ra ngay những nét thơ mộng của hồ Bán Nguyệt. Đêm thanh gió mát, nhìn xuống hồ sẽ thấy trăng hiện lung linh, ngửa mặt lên nhìn trời thì cũng gặp một "gương hồ" thăm thẳm trong vầng trăng…
Cảnh đẹp thế nên hay gợi nên những ý thơ hay những công việc thi ca. Có lẽ không là ngẫu nhiên mà hơn trăm năm trước, năm 1905, Tổng đốc Lê Hoan đã tổ chức một cuộc thi vịnh Kiều ở ngay bên hồ Bán Nguyệt của Phố Hiến.
Đây là một cuộc thi thơ đáng được coi là "hoành tráng" thời ấy, trong ban giám khảo có cả Cụ Tam Nguyên Yên Đổ, tức nhà thơ lớn Nguyễn Khuyến. Bài vở từ khắp các địa phương gửi về rất nhiều.
Là một danh sĩ quê Hưng Yên, cáo quan về nhà vui thú điền viên, Chu Mạnh Trinh đã là một trong những nhà thơ tham gia tích cực nhất cuộc thi vịnh Kiều này: Ông gửi tới cả một tập ngót nghét hai chục bài với nhan đề "Thanh Tâm Tài Nhân thi tập", trong đó toàn những lời phun châu nhả ngọc, có lắm câu rất thâm thúy, nét thâm thúy điển hình của những người gốc quê nhãn.
Thí dụ như trong bài vịnh Sở Khanh, Chu Mạnh Trinh đã hạ bút:
Làng Nho người cũng coi ra vẻ,
Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay!
"Thanh Tâm Tài Nhân thi tập" đã được chấm giải quán quân về thơ Nôm. Tuy nhiên, dưới con mắt xanh của Nguyễn Khuyến, những câu thơ trên có điều gì đó không phải đạo lắm với nghiệp thánh hiền. Vậy nên, Cụ Tam Nguyên Yên Đổ mới phê ngay vào bên cạnh hai câu thơ trên:
Rằng hay thì thực là hay,
Đem "nho" đối "xỏ", lão này không ưa…
Chuyện chỉ có thế thôi, nhưng rồi, tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa, thiên hạ suy diễn nhiều điều khiến Chu Mạnh Trinh cảm thấy Nguyễn Khuyến không thiện chí với mình.
Người Phố Hiến ơn nhỏ nhớ lâu, nhưng hận nhỏ cũng khó quên. Vậy nên, trong một dịp Tết, Chu Mạnh Trinh đã cho người mang tới biếu Cụ Tam Nguyên Yên Đổ, lúc đó đã bị lòa mắt, một chậu hoa trà, rất đẹp. Tuy nhiên, hoa trà vốn chỉ có sắc, không có hương, người khiếm thị biết thưởng thức sao đây?
Có lẽ Chu Mạnh Trinh cũng chỉ muốn nhẹ nhàng nhắc với Cụ Tam Nguyên Yên Đổ rằng, ông là thi sĩ lớn nhưng không phải mọi sự đánh giá của ông về thi ca đều nhất nhất chuẩn xác, một khi thi vị của tác phẩm mà ông thưởng thức nằm ngoài vùng cảm xạ tự nhiên của ông.
Chuyện như đùa nhưng là nhà thơ cự phách, lại rất nhạy cảm và bút lực vốn phi thường ân oán, Nguyễn Khuyến đã thảo ra ngay một bài thơ vịnh chậu hoa trà mà Chu Mạnh Trinh gửi tặng:
Tết đến người cho một chậu trà,
Đương say còn biết cóc đâu hoa.
Da mồi tóc bạc, ta già nhỉ,
Áo tía đai vàng, bác đó a?
Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá,
Gió to luống sợ lúc rơi già!
Lâu nay ta chỉ xem bằng mũi,
Đếch thấy hơi thơm, một tiếng khà!
Chỉ có nhà thơ mới có thể làm cho nhà thơ khác cáu kỉnh và chua cay đến như vậy. Hẳn Chu Mạnh Trinh cũng cảm thấy áy náy khi đọc những lời như thế của Cụ Tam Nguyên.
Tuy nhiên, có lẽ cũng không nên "bi thảm hoá" bài thơ trên để vội kết luận rằng quan hệ giữa Nguyễn Khuyến và Chu Mạnh Trinh quá ư là xấu. Bởi lẽ, trong những bài thơ trào lộng, Cụ Tam Nguyên Yên Đổ bao giờ cũng có giọng chua cay như thế.
Đến tự vịnh mình mà Nguyễn Khuyến còn viết đầy riết róng như sau:
Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gày, chẳng béo, chỉ làng nhàng.
Cờ đương dở cuộc, không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng.
Chu Mạnh Trinh đã qua đời sau sự việc trên không lâu, cũng trong năm 1905. Nguyễn Khuyến thọ hơn ông 4 năm (mất năm 1909).
Kẻ viết bài này rất muốn tin rằng, hai cụ ở thế giới bên kia nếu có dịp gặp nhau sẽ cười khà khi nâng ly cùng nhau mà nói rằng, sao lại có một số kẻ hậu sinh cứ nghĩ rằng chúng ta "xỏ" nhau nhỉ?
Thi sĩ muôn đời đều đồng bệnh tương liên, có nói nặng với nhau đôi chút cũng chỉ là để bày tỏ bút lực của mình thôi, chứ có ai lại mong gieo tiếng xấu cho ai
