Nhân đọc tập thơ “Hoa muộn” của Hà Văn Thể:

Vẻ đẹp của nỗi buồn

Thứ Hai, 24/02/2014, 09:36
Có lẽ vì phẩm chất lãng mạn và "dấu vết Phật tính" mà Hà Văn Thể có thể nhẫn nại, chế mình để vượt qua được những buồn thương: "Nửa đêm sắc thuốc cho con/ Thêm thang hy vọng cha dồn vào đây/ …Ngôi sao chiếu mệnh nhạt rồi/ Khổ đau ngửa mặt lên trời mà mong/ Kiếp người chưa hết long đong/ Thuốc nào chữa được mấy vòng trần ai" (“Nửa đêm”).

Cứ mỗi khi đọc và nhớ về thơ Hà Văn Thể, nó gợi lên trong tôi, thảng thốt trong tôi cảm xúc miên man, vân vi về thơ ông như thế. Vẻ đẹp của nỗi buồn không phải là nội hàm thơ ông phản ánh, nhưng nó là ánh quang toát ra từ tinh thần và góc nhìn căn bản của thơ ông, không chỉ ở những quan tâm đau đáu về nỗi người, phận người, mà ngay cả ở những nỗi đau sâu kín, dằn vặt và riêng tư nhất về gia đình, người thân thương của mình. Trong nỗi đau, nó vẫn toát lên vẻ điềm tĩnh, vẻ đẹp ở miền tinh thần còn vương víu. Điều đó minh chứng cho một tâm thế thi ca đã "tọa" được trong tinh thần thẩm thấu, nghiệm sinh và cảm xúc của nhà thơ với toàn bộ mối qua tâm của ông trong đời sống mà ông cảm nhận, phản ánh.

Có nhà thơ, khi đọc bài thơ “Bài ca ngôi nhà nhỏ” (tập “Lạy xin mây trắng”, NXB Hội Nhà văn, 2005) đã không khỏi bất ngờ, thậm chí chấn động trong tinh thần cảm thụ của ông về thơ Hà Văn Thể ở bài thơ mà ông cho rằng "tàng chứa dấu vết Phật tính": "Ơi chú nhện giăng tơ ngoài cửa sổ/ Dệt nên tấm lưới mẫn cảm bằng thịt da mình…/ Con tôi mở cửa ra vô tình làm hỏng mất/ Nhưng chú không buồn/ Lại nhẫn nại dệt nên tấm khác/ Bởi thế ngôi nhà tôi có bao nhiêu sinh linh, thì bấy nhiêu niềm hy vọng/ Cứ diễn ra như thế ngày ngày".

Lãng mạn là dấu ấn nhất quán và tinh thần chủ đạo cho đến nay, để bay qua những miền trời khác nhau ở Hà Văn Thể, bởi nó cấu trúc bằng nhiều điệu thức, khúc ca: “Bài ca ngôi nhà nhỏ”, “Khúc hát về làng nhỏ”, “Ai về Phú Thọ”… Nó bắt đầu từ những xuất điểm: "Tôi hòa vào mặt đất nhão bùn/ Là những hoàng hôn và ban mai hối thúc/ Giữa dòng người đến sau, đến trước/ Cùng hát lên khát vọng tổ tiên mình" (“Khúc hát về làng nhỏ”, tập “Lạy xin mây trắng”). Và từ xuất điểm lãng mạn và đôi cánh truyền thống, mà ở đó, ông bay lên bằng những khối đá lạ lùng, sừng sững, thật lãng mạng, kỳ vĩ và siêu tưởng: "Tôi cưỡi đá bay qua phố phường, đồng ruộng/ Hoảng loạn gọi con người - người trốn biệt nơi nao" (tập “Lạy xin mây trắng”). Lãng mạn của Hà Văn Thể là bài ca sâu lắng, điềm tĩnh, dung dị, chứ không phải cái ồn ào, uốn éo, son phấn kép hát, hay "chim bay bướm lượn" mà ta không hiếm gặp…

Trong “Hoa muộn”, Hà Văn Thể có nhiều mảng đời sống và kỷ niệm khác nhau, nhưng tập trung và nổi lên trên cái nền tản mạn ấy là bóng dáng quê hương và những người thân. Có thể nói, vùng quê trung du Phú Thọ là mảng đề tài quan tâm sâu sắc nhất của ông, và nó cũng là nguồn cảm hứng dồi dào, từ khởi phát cho đến giờ. Sợi dây nguồn cội giăng níu một cách thủy chung trong tâm hồn của nhà thơ: "Đất trung du miên man dốc đồi/ Bước lên thì cao/ Bước xuống thì thấp/ Cây cọ đứng bên bờ ruộng rộc/ Kiêu hãnh thả lên trời những chiếc lá xanh/ Người trung du quen cuối thác đầu gềnh/ Không ngay thẳng, thật thà không sống được" (“Ai về Phú Thọ”). Đó là giọng hoan ca về quê hương, với "ai về" như tiếp âm đầu của những câu ca dao truyền thống "ai ơi…", "ai về…": "Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang/ bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu". Hay như nhà thơ Bút Tre, đồng hương làng của ông, với "Hoan hô…": "Hoan hô Đại tướng Võ Nguyên…", cả Tố Hữu dân gian nữa: "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên…", "Ai lên Phú Thọ, ai xuôi Trung Hà/ Ai về khu bốn ai xuống khu ba/ Đường ta đó tự do cuồn cuộn…".

Bìa tập thơ “Hoa muộn”.

Khi viết về dòng sông Bứa, con sông nhỏ chảy từ rừng Thanh Sơn qua làng ông để gặp sông Hồng, một dòng sông kỷ niệm tảo tần, muối mặn của mồ hôi nhọc nhằn, nhưng điệu thơ vẫn là âm hưởng của tiếng ca nồng hậu, neo buộc bóng quê: "Nhớ thời rau sắn muối vừng/ Đồng chiêm ngụp lặn, đường rừng chơi vơi/ Cái thời người biết yêu người/ Khổ đau mà cứ hát cười như không/ …Sông quê vẫn mát tận nguồn/ Tình quê nồng hậu, ai còn nhớ chăng/Đường đời mỏi gối chồn chân/ Cho ta xin lại về lần bóng quê" (“Ta về sông Bứa”).

Ở một góc khác, chợ cũng chính là bức tranh sinh động nhất của đời sống, văn hóa ở bất kỳ miền quê nào. Chợ quê miền đồi của Hà Văn Thể có gì? Đó là một cái chợ: "Râm ran những tiếng chào mời/ Bá mua miếng rễ, bủ xơi miếng trầu". Thôi thì đủ bánh khoai, bánh đúc, chè tàu, măng nứa, măng dang, nón chằm, mành cọ, bò kéo, trâu cày… Dân dã quá, quê kiểng quá, cái tình quê giản dị mà ấm áp quá: "Quẩn quanh toàn những người làng/ Dăm ba câu chuyện mở hàng bán mua/ Kìa hai chú tiểu ngẩn ngơ/ Giục nhau xách đậu, gánh ngô về chùa". Hai chú tiểu như một nét chấm phá của bức tranh quê ngẫu hứng, ngồ ngộ Hà Văn Thể. Một nét quê thanh bình cổ điển.

Và ở vùng quê thanh bình, dân dã, tảo tần ấy, Hà Văn Thể còn có những nỗi niềm thảng thốt khác, dù ít gặp trong thơ ông: "Tôi như ngọn gió vô tình/ Một chiều đến thổi rập rình ngõ em/ Thế mà trời chẳng xe duyên/ Tháng năm sương khói mãi biền biệt xa" (“Ai về, ta nhắn...”). Một người giờ đã ở thị thành nhiều chục năm, ký ức còn chưa phai cái ngày xưa ấy, nên mới có "Ai về, ta nhắn". Chẳng biết lời nhắn bâng quơ trực giác ấy có đến được nàng không (giờ hẳn lên lão rồi) nhưng sợi dây ký ức mỏng manh ấy đủ cho ông bâng khuâng cả một đời, một đời chung thủy với cố hương, với ký ức đẹp thời trai trẻ. Ở mảng thơ "người quê" này, ông cũng có cả sê-ri bài viết về những bậc tiền nhân văn nghệ của trung du Phú Thọ: Sao Mai, Bút Tre, Ngô Ngọc Bội, Phạm Tiến Duật với lòng mến yêu, khả kính; và ông cũng viết về những bạn bè văn chương khác ở Việt Trì, dù đời làm văn nghệ "hẻo" lắm, nhọc lắm nhưng vẫn cần mẫn: "Sông Thao mài mực đỏ/ Rừng cọ cất lời ca". Lãng mạn, yêu cuộc sống và con người trung du. Luôn nhìn họ ở cái nghĩa lớn, chìm mờ những góc khuất đời sống khác là lời ca bay lên, vượt lên những số phận.

Có lẽ vì phẩm chất lãng mạn và "dấu vết Phật tính" mà Hà Văn Thể có thể nhẫn nại, chế mình để vượt qua được những buồn thương: "Nửa đêm sắc thuốc cho con/ Thêm thang hy vọng cha dồn vào đây/ …Ngôi sao chiếu mệnh nhạt rồi/ Khổ đau ngửa mặt lên trời mà mong/ Kiếp người chưa hết long đong/ Thuốc nào chữa được mấy vòng trần ai" (“Nửa đêm”).

Tôi biết, Hà Văn Thể có quá nhiều cái "Nửa đêm" níu kéo tinh thần, thể lực ông, như muốn dìm ông, luộc ông trong bể khổ trần gian như thế. Tôi mới hiểu mỗi lời ca của ông có đôi cánh bay phi thường, cất khỏi những khối đá đè nặng trong cuộc đời ông thế nào. Mới hiểu vì sao ông: "Tôi cưỡi đá bay qua phố phường, đồng ruộng/ Hoảng loạn gọi con người - người trốn biệt nơi nao". Mới hiểu vì sao, những câu hỏi quằn lên vô vọng: "Con chim sinh ra trời cho tiếng hót/ Con chó sinh ra đêm sủa vang nhà/ Mà sao con mười năm không nói/ Lặng im thành đá giữa lòng cha…". Sự nhẫn nhịn, chịu đựng dai dẳng ấy, có lẽ một ngày, lẽ công bằng huyền vi cũng nhìn ra: "Bỗng hôm nay được nghe con nói/ Lời yêu thương nảy nụ giữa ngày xanh/Cha nín lặng thấy lòng mình òa vỡ/Muôn tiếng đàn ngân nga, rưng rưng…" (“Nghe con nói”).

Lời yêu thương và tiếng đàn (hay lời ca) là cặp bài trùng nâng đỡ, quấn quýt nhau trong tâm thế thơ, khí thơ Hà Văn Thể. Nó được cấu tạo một cách tự nhiên trên con đường hành nghiệp nhân bản của ông. Ta thấy hiển minh trong ngữ cảnh này: "Nếu có khi nào va chạm, vấp ngã/ Thì em ơi chớ lấy làm buồn/Vết sẹo thời gian rồi hoa sẽ nở/ Sẽ lắng đọng dần những dư vị, mùi hương" (“Em hãy đi hết con đường mình chọn”). Ta thấy sáng rõ hơn ở những tự sự "Tuổi năm mươi…" của ông: "Tuổi năm mươi lặng im anh lại học/ Lặng lẽ để vui buồn, lặng lẽ để thương nhau". Cả đời đã thế, tuổi năm mươi vẫn lặng lẽ tiếp tục học để yêu thương như thế. Cái bể yêu thương, nhân hậu thật sâu, thật rộng trong tâm hồn Hà Văn Thể. Vẫn biết rằng, thơ "thất bát", thơ không thể nuôi sống con người. Nhưng thơ làm cho con người người hơn, lãng mạn hơn, yêu thương hơn, đẹp hơn, thơ nuôi con người ở miền tinh thần. Và vì vậy, tâm niệm đời thơ của ông luôn là tiếng yêu thương, chăm chút dù là những sinh linh nhỏ bé nhất: "Những sinh linh hữu hạn, nhỏ bé, yếu ớt/ Và như thế mỗi ngày âm thầm tôi viết/ Thơ sẻ chia không né tránh bao giờ" (“Thơ viết cho mình”).

Đọc “Hoa muộn”, tôi mong ở Hà Văn Thể nhiều hơn thế về chất lượng toàn thể, cấu trúc và tổ chức tập… sau những nếm trải và thức ngộ của ông. Nhưng Hà Văn Thể không chú tâm nhiều về câu chữ, không chạy theo những cái "mốt" của hình thức, không phụ thuộc truyền thống hay hiện đại, cốt sao mỗi bài thơ là mảnh đất bay lên của lời ca, sự chiu chắt của tình yêu thương, dù là trong nỗi cô đơn, trống vắng đến hoang lạnh của ông. Mối quan tâm đau đáu, thường trực vẫn là Người: "Dòng sông đang cạn nước rồi/ nghe trong khô khát tiếng người tìm nhau" (“Sông mà cạn nước”). Và vì thế, ngay cả ở những câu thơ, những bài thơ buồn nhất, tôi vẫn thấy từ trong sâu thẳm của nó tiếng thì thầm như giai điệu, tôi vẫn thấy toát lên ở đó vẻ đẹp của nỗi buồn

Trần Quang Quý
.
.
.