Văn học và sự ngưng đọng lao động

Thứ Năm, 12/01/2006, 08:49

Mây có thể không đếm được, gió có thể không đo được nhưng tác dụng của văn học, trong đó có thơ, là hoàn toàn có thể thấy rõ. Giá trị văn học, trước hết không bộc lộ trên giá cả mà bộc lộ trên những tác động xã hội của đời sống. Chính vì vậy mà người ta gọi văn học là một loại hàng hóa đặc biệt.

Thế giới lại tiếp tục lên thêm một cơn sốt vàng. Giá vàng tại Việt Nam cũng lên đến đỉnh điểm: Hơn một triệu đồng một chỉ. Vàng vốn dĩ là kim bản vị, là vật trung gian trao đổi hàng hóa giữa người với người. Trước khi nghĩ ra tiền giấy, loài người đã từng biết đẽo đá làm vật phẩm trung gian do sự thỏa thuận của những tộc người.

Có lẽ, sự phát minh ra đồng tiền còn lớn hơn nhiều so với sự phát minh ra lửa, bởi lửa không bắt đầu từ tay người mà bắt đầu bằng các vụ lở đá, các vụ cây đổ, các vụ sét đánh. Tiền giấy là sự trừu tượng hóa kỳ diệu nhất trong các sự kỳ diệu. Lao động ngưng đọng lại, hay nói chính xác hơn, giá trị thông qua giá cả của lao động được ngưng đọng lại, được pháp luật hóa và kỹ thuật hóa thì thành tiền. Nhận xét ấy dường như đúng tuyệt đối ở mọi chặng đường của quá khứ, ở khắp mọi nơi, mọi xó xỉnh của thế giới này.

Ngày nay, nhận xét ấy chỉ có vẻ là đúng thôi vì con người rất khó kiểm định. Con người chưa bao giờ phải ứng xử khó khăn như trên chặng đường này để xét về giá cả: Mối quan hệ giữa lao động và sự trả công trở nên trừu tượng hơn bao giờ hết. Giá trị lao động ngưng đọng trong một kilôgam khoai lang khác thế nào với giá trị lao động ngưng đọng trong một kilôgam khoai sọ thì còn dễ tính. Ai biết được giá trị lao động của hai tờ cổ phiếu của hai ngày khác nhau trên cùng một thị trường chứng khoán?

Theo tôi, một nhà thơ, thì lịch sử lao động của loài người được chia làm ba thời kỳ: Thời kỳ thứ nhất là thời kỳ mà lao động có thể đếm được bằng giá trị thực; thời kỳ thứ hai là thời kỳ lao động khó đếm được ngay bằng giá trị thực và thời kỳ thứ ba là thời kỳ lao động có thể đếm ngay được, dù nó trừu tượng đến mấy. Nhân loại đang bước vào thời kỳ thứ hai. Ở chặng đường này, nhân loại đang bước vào thời kỳ mà người ta gọi là kinh tế tri thức. Tri thức là cái hữu hình no ẩn chứa cái vô hình nên sự đánh giá mới trở nên khó khăn.

Ấy là lao động nói chung chứ chưa phải nói đến lao động văn học, lao động thơ.

Quý IV/2005, tôi nhận được tiền "tác quyền" bài hát "Trường Sơn Đông  - Trường Sơn Tây" qua Trung tâm Bảo hộ quyền tác giả âm nhạc (Giám đốc là nhạc sĩ Phó Đức Phương) số tiền 182 ngàn 500 đồng. Đây là tiền phát lại trên sóng truyền hình và phát thanh. Bài thơ ấy lần đầu in trên Tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1970. Cùng năm ấy, bài "Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây" in trong tập thơ đầu tay của tôi, tập "Vầng trăng quầng lửa". Sau 35 năm, nhuận bút bài thơ do mấy lần in, cộng đi cộng lại vào khoảng dăm, bảy trăm nghìn, thế mà tiền ca từ do bài hát mang lại đã là nhiều triệu đồng. Có lẽ sắp tới tôi nên bỏ thơ đi làm ca từ bài hát, dễ kiếm hơn chăng?

Lại kể chuyện khoảng 20 năm trước, tôi đến làm phim tại Xưởng phim Quân đội nhân dân. Ở đó, mấy nghìn mét phim không có chủ vì đạo diễn và người quay phim đã hy sinh ở chiến trường. Ông Dương Minh Đẩu, Giám đốc Xưởng lúc ấy mời tôi đến xem phim nháp và đề nghị tôi biên tập để các thước phim ấy có thể đến với công chúng. Tôi cho cắt tất cả các thước phim dính líu đến các cây cầu (cầu gỗ, cầu sắt, cầu khỉ...) của Trường Sơn rồi làm cho phim ấy một bài thơ dài. Thế là kịch bản của tôi mà lời bình cũng của tôi. Đến lúc xem thiết kế mỹ thuật, tôi chê xấu và Xưởng lại mời tôi vẽ.

Buổi trưa hôm ấy, tôi chạy sang Phòng Văn nghệ Quân đội ở số 4 Lý Nam Đế mượn bút vẽ, cả màu và giấy của họa sĩ Kim Giao. Chỉ một giờ đồng hồ buổi trưa tôi vẽ được sáu bức họa mỹ thuật cho phim. Tôi không kể về hay, dở, đẹp, xấu mà đang nói về giá trị lao động: Tiền kịch bản và bài thơ dài - kết quả lao động cả tuần - chỉ bằng một nửa số tiền một giờ tôi ngồi bôi màu. Có lẽ, sắp tới tôi bỏ thơ đi vẽ sẽ kiếm được hơn chăng?

Ai cũng coi thơ là sang trọng. Sang trọng như lọ hoa. Khách đến thì đặt lọ lên bàn, khách về thì họ cho lọ xuống gậm giường. Có mấy ông bà dở hơi mới đi kiếm tiền bằng thơ. Có mà chết đói. Nhiều nhà thơ kêu ca thế cũng là nhẽ đời thường tình. Người ta bảo thơ là mây gió. Ấy là người ta nói quá lên, chứ mây còn đếm được, gió còn đo được, chứ thơ lấy gì mà đếm, mà đo.

Ngôn ngữ mà tôi vừa bình luận là ngôn ngữ thuần túy tài chính. Mà bàn văn chương dường như phải dùng ngôn ngữ khác và tư duy khác. Phải nói lại thế này: Mây có thể không đếm được, gió có thể không đo được nhưng tác dụng của văn học, trong đó có thơ, là hoàn toàn có thể thấy rõ. Giá trị văn học, trước hết không bộc lộ trên giá cả mà bộc lộ trên những tác động xã hội của đời sống. Chính vì vậy mà người ta gọi văn học là một loại hàng hóa đặc biệt. Chỉ có tiền, một xã hội hiện đại phải cố mà đếm cho được giá trị lao động thực tồn chứa ở mỗi một thực thể văn chương

Phạm Tiến Duật
.
.
.