Tướng Hoàng Minh Thảo: Nhẹ gót trần ai
Có lẽ ý thức được vậy mà chủ nhân đã tạo ra nơi đây một chốn phong thủy trầm mặc, bình yên. Quần thể ngôi nhà, nơi gia đình lớn của ông gồm 3 gia đình của 3 người con trai cùng cháu chắt tập trung quây quần bên nhau mấy thế hệ. Cái văn hóa phương Đông cùng phong vị của một gia đình thuần Việt đã ăn sâu vào cốt cách của một vị tướng lĩnh có tấm lòng bao dung, tâm hồn rộng mở. Phía trước ngôi nhà quay lưng ra mặt đường là một chiếc ao nhỏ trồng đầy những bụi chuối mật xanh um một màu xanh mát mẻ.
Giữa Hà Nội, có được một vùng quê, dù là nhỏ nhoi thôi, dù chứa đựng được hồn vía của quê nhà mà không phải là cái quê kiểng đã tỉa tót lai căng của chốn thị thành thật quý giá lắm thay. Những tàu lá chuối xanh rì rào trong nắng, những bậc tam cấp bằng đá xếp đầy rêu nơi chiếc ao lâu nay lắm xác lá vàng rụng xuống chưa tay người kịp dọn vớt làm cho mỗi ai khi bước vào chốn này cũng chợt thấy có gì đó thật thanh bình, càng làm cho khách thêm quý trọng và nể phục những nét đời thường ẩn phía sau một vị Thượng tướng lừng lẫy, một giáo sư khả kính và sắc sảo, một người quá nổi tiếng trong lĩnh vực quân sự nhưng có một lối sống giản dị, thanh bạch mà thư thái nơi đây.
Nhưng vườn chuối kia hôm nay lặng buồn. Mặt ao kia nước không gợn sóng. Lá vàng kia thả xuống lối đi những tiếng thở dài nhẹ. Mùi trầm hương, mùi của nhung nhớ, biệt ly và hoài niệm ngan ngát tỏa khắp không gian một nỗi đau khôn tả. Chủ nhân nơi đây vừa đi xa không trở về. Chiếc bàn thờ vừa lập vội đặt chính diện giữa nhà.
Trên bàn thờ, sau nghi ngút trầm hương kia là gương mặt trang nghiêm mà gần gũi, thông tuệ mà thư thái với ánh mắt chan chứa tình cảm đang dõi nhìn những người thân, đồng chí, bạn hữu ở một nơi xa lắm. Bên cạnh bàn thờ, bộ comlê của ông vẫn còn ấm hơi người, chiếc ca vát như vừa cởi vội, vắt lên bộ comlê, tất cả treo lên bên cạnh bàn thờ như thể ông vừa đi đâu, vừa từ một nơi quan trọng nào đó trở về. Ông cởi bộ comlê, ca vát treo hờ hững lên móc, rồi nhẹ bước ra vườn. Như thể, ông ra để hít thở cái không khí trong lành ngoài sân, để tỉ mẩn bên những bụi chuối mật xanh um mà nén lòng một nỗi nhớ quê cha đất tổ, nhớ những bậc sinh thành nơi quê nhà giờ cũng đã nhẹ gót trần ai. Hay ông đang đi dạo bên ao cá để gọi đàn cá lên cho chúng ăn trong một buổi chiều yên bình như bao buổi chiều khác.
Thượng tướng Hoàng Minh Thảo là người luôn đau đáu một nỗi nhớ quê khắc khoải, ký ức về quê hương da diết cháy trong tâm thức của người con trận mạc giờ đang sống ở chốn thị thành. Hay như thể ông vừa đi đâu đó đàm đạo với bạn bè, với những thế hệ sau đang học những bài học quân sự từ những tri thức mà ông để lại. Trên bàn làm việc, những bản thảo chi chít dấu sửa của bút đỏ, những bản thảo nằm trên bàn đợi ông trở về, đợi ông chậm rãi ngồi vào bàn viết, gò cái lưng gầy guộc trên chiếc ghế và đeo mục kỉnh vào, cúi mình trên những trang bản thảo dang dở.
Đó là những lúc, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo trở thành một nhà báo, một nhà thơ, một người làm nên những nét riêng biệt của nghệ thuật quân sự lỗi lạc có quá nhiều kinh nghiệm cầm quân trận mạc nơi chiến trường. Nghệ thuật đó đã được ông đúc kết qua những câu thơ có một không hai:
Mưu cao nhất là mưu lừa địch
Kế hay nhất là kế điều địch
Lừa địch là tạo ra bất ngờ
Điều địch là giành được thế chủ động
Bất ngờ và chủ động là mạch sống của tác chiến.
Tất cả mọi thứ, chiếc giường nhỏ, căn phòng, chiếc bàn làm việc cũng nhỏ bé, đơn sơ, đầy nét cần kiệm liêm chính của một người lính từng kinh qua bao trận mạc, kinh qua bao chết chóc mất mát, thì cuộc sống hiện tại dường như đã bước qua từ lâu cái tham-sân-si ở đời. Bởi thế, sự giản đơn là chất của một người lính, càng ở vị trí cao, càng nổi tiếng, càng giản dị hơn người. Bàn làm việc chật ních bởi chất đầy bản thảo và sách vở.
Với căn phòng này, góc làm việc này, có ai hình dung, người vừa đi xa là một nhân vật nổi tiếng biết bao, người đã để lại cho quân đội, cho đất nước một kho tàng đồ sộ với gần 100 đầu sách, trong đó có những cuốn quý giá như: "Tổ tiên ta đánh giặc", "Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong chiến tranh và giải phóng và bảo vệ Tổ quốc", "Cách dùng binh",... Người đã góp thêm cho báo chí nước nhà những trang viết luận bàn sắc sảo về thời cuộc, quân đội… Những đóng góp to lớn cho nền nghệ thuật quân sự đã mang đến cho ông những vinh danh cao quý. Ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Trên chiếc bảng con treo trước bàn làm việc, vẫn còn đó những dòng chữ lên kế hoạch cho công việc của một tuần. "Ngày 4/9 đi nói chuyện ở Viện Chiến lược Quân Sự Việt Nam, ngày 5/9 đi nói chuyện với Bộ Tổng tham mưu,…". Công việc vẫn được lên lịch và sắp sẵn như thường lệ, chỉ có chủ nhân là đột ngột đi xa không về.--PageBreak--
Anh Hoàng Hoa Châu, Phó Hiệu trưởng Trường Sỹ quan Lục quân I, con trai thứ hai của Thượng tướng Hoàng Minh Thảo bùi ngùi kể lại: Cha tôi vẫn khỏe, mọi sinh hoạt vẫn như thường. Trước khi ông mất 4 hôm, ông vẫn còn đi nói chuyện ở Viện Chiến lược Quân sự. Ông nói hăng lắm, tinh thần sảng khoái. Ông trở bệnh chỉ vài hôm, bệnh dạ dày kinh niên của ông không phải là quá nguy hiểm.
Vài hôm trước, ông kêu đầy bụng, nặng bụng, nên ăn ít và ăn kém đi. Ăn vào lại nôn ra, nên người mệt hẳn. Ông hạn chế đi lại, hầu như chỉ nằm trên giường. Ông vẫn dùng thuốc dạ dày đều. Thứ 7, gia đình quyết định đưa ông vào viện khám, ông lắc đầu không chịu, bảo thứ 7 là ngày nghỉ, mình đến ngày nghỉ làm phiền bác sỹ, bệnh có nặng đến mức cấp cứu đâu mà phải vào thứ 7. Vậy là rốn đến thứ 2. Không ngày nào trước khi đi làm, và đi làm về, tôi không sang chào ông. Đã thành thông lệ của gia đình, con cháu đi đâu làm gì cũng phải sang chào ông, thưa gửi ông.
Tối chủ nhật, tôi qua xoa lưng cho ông, nhắc ông chuẩn bị sáng mai vào viện khám, nếu bác sỹ thấy cần thiết phải nhập viện điều trị, thì cũng động viên ông ở lại. Tối hôm đấy, hai bố con vẫn nói chuyện với nhau, từ ngày Hà Nội mở rộng, ông rất hay hỏi han tôi về công việc ở bên ngoài, ông quan tâm lo lắng cho công việc của các con. Tình phụ tử ở ông gắn liền với việc lo lắng bồi dưỡng cho sự nghiệp của các con cháu, để mong con được trưởng thành, sớm thành đạt.
Ông vẫn thường trăn trở với việc sẽ bồi dưỡng cho tôi, chăm chút cho tôi để sau này tôi nối nghiệp ông. Là một nhà quân sự, theo ông không chỉ có đánh trận giỏi, chỉ huy giỏi mà còn phải viết tốt, phải nghiên cứu khoa học thật giỏi giang, phải trình bày được những vấn đề quân sự sắc sảo. Càng về cuối đời, ông càng đau đáu một khát vọng bồi dưỡng cho tôi để tôi có thể tiếp tục đi tiếp con đường mà ông đã đi. Vậy mà ông đi nhanh quá.
Đêm hôm đó, 3h sáng ông còn bấm chuông gọi chú cần vụ vào cho uống sữa. 4h sáng, ông lại bấm chuông, kêu khát nước, chú cần vụ còn ép lê cho ông uống. Uống xong, ông lại đi ngủ. Đến 6h sáng, tôi xuống phòng ông để thức ông dậy đánh răng, rửa mặt, ăn sáng để đi khám thì đã thấy ông đi từ lúc nào. Gương mặt hãy còn hồng, da thịt vẫn còn ấm. Ông nằm như đang ngủ, thân thể hãy còn đó nhưng hơi thở đã tan vào trời. Ông đi đột ngột, nhẹ nhàng và thanh thản như đã đến lúc ông không muốn dừng chân lại trên cõi nhân gian này nữa. Con người sinh - lão - bệnh - tử là lẽ thường, mỗi người ra đi khỏi trần gian này một cách khác nhau. May mắn của bố tôi là ông đã nhẹ gót trần ai. Đúng là "Sinh vi tướng, tử vi thần". Đó là lúc 6h05' sáng 8/9/2008.
Trên bàn làm việc của ông, những dòng chữ nhắc việc vẫn còn, bản thảo cuối cùng ông vừa hoàn thành trước đó, vẫn để mở ra để ông ngẫm lại từng câu từng chữ. Đó là bài viết: "Về phương pháp luận: Nhỏ đánh lớn - ít địch nhiều". Cuối trang bản thảo, những dòng chữ vẫn còn in đậm: "Đấu tranh là động lực để phát triển. Sự vật luôn vận động và đấu tranh, giải quyết mâu thuẫn và thống nhất mâu thuẫn. Sự vật là luôn luôn có vận động, gặp các mâu thuẫn và luôn đấu tranh. Vận động là bản chất của sự vật. Đấu tranh là động lực của phát triển. Việc giải quyết mâu thuẫn "ít địch nhiều, nhỏ đánh lớn", là một mâu thuẫn rất gay gắt, phải có đấu tranh, dám đấu tranh, biết đấu tranh và phải đánh bằng mưu kế thì mới giành được thắng lợi". Vậy là, con người cống hiến đến phút cuối cả cuộc đời mình hiến thân cho sự nghiệp quân sự, giờ đã lặng bước phía bên kia trời.
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt, người con gái Hà Nội sinh ra và lớn lên trong một gia đình thương nhân quyền quý ở Nam Định, từng là hoa khôi của đất Nam Định khi xưa, nổi tiếng xinh đẹp và hát hay đã làm xiêu đổ chàng trai Hoàng Minh Thảo, lúc đó mới 24 tuổi đã là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 304. Trai tài, gái vừa sắc vừa tài hoa, họ yêu nhau rồi nên vợ nên chồng. 19 tuổi, bà về làm vợ của ông, cuộc hôn nhân thời chiến nhiều hy sinh và chịu đựng gian khổ.
Tháng chín là tháng định mệnh của ông bà. Ông bà kết hôn tháng 9/1949, đám cưới vàng kém một năm nữa là tròn 50 năm. 50 năm trọn tình vẹn nghĩa phu thê, và cũng là 50 năm nổi chìm dâu bể. Cũng vào dịp tháng 9/2008 này, ông bỏ bà, bỏ con cháu để về với tổ tiên khuất bóng. Và tháng 9 cũng là một tháng đánh dấu một sự kiện đau xót của gia đình ông bà vào năm 2005, người con trai cả của ông bà ở tuổi 54 trên đường trở về nhà anh đã bị tai nạn giao thông và mất ngay trên đường phố Hoàng Hoa Thám.
Nỗi đau ập đến với gia đình ông. Người tướng lĩnh từng kinh qua không biết bao nhiêu cái chết, sự hy sinh của đồng chí, đồng đội, nhưng trước mất mát quá lớn của gia đình mình, của ruột thịt mình, ông đã chới với mất một thời gian dài. Còn vợ ông, bà Minh Nguyệt thì suy sụp hẳn sau cái chết đau đớn của con trai. Nỗi đau hóa đá trong câm lặng, từ đó, cú sốc tinh thần quá lớn mà bà thành ra như người đãng trí, nhớ nhớ, quên quên. Giờ đây, trước cái chết đột ngột của ông, dẫu là ở tuổi thượng thọ, dẫu biết con người ai không từng phải ra đi phía sau cuộc sống mà họ đã sống, cả bà nữa, một ngày nào đó bà cũng sẽ ra đi rời bỏ chốn trần thế này, thế nhưng bà vẫn bị sốc, vẫn bàng hoàng.
Bà lại nhớ quên, quên nhớ, lại như người thân thể còn ở lại nhưng tinh thần đã bảng lảng đâu đó. Bà nói với tôi về ông mà nước mắt nhập nhòe: "Cháu ơi, ông nhà bà hiền lắm, ông sống nhân hậu từ bi lắm, cả đời ông chưa bao giờ mắng bà, hay to tiếng với bà. Với các con ông nghiêm khắc và bao giờ cũng để con tự mình vươn lên. Vậy mà ông đi rồi, đi đã mấy hôm nay rồi".
Trong câu chuyện về người bố vĩ đại của mình, anh Hoàng Hoa Châu cất giọng đượm buồn. Bố mất, anh trai cả đã đi xa, gánh nặng con trưởng giờ dồn đổ lên vai anh. Cái chết đột ngột của bố đã làm cho anh chống chếnh với nỗi đau vô hạn. Bố dù già yếu, dù không thể là chỗ dựa cho các con như ngày các con còn bé bỏng, nhưng về một mặt nào đó, bố vẫn là chỗ dựa tinh thần lớn nhất cho anh, cho cả đại gia đình. Trong đại gia đình lớn của anh, bố vẫn là linh hồn có sức nặng bao trùm lên tất cả. Việc mất bố, đứa con nào dù đã lớn đến đâu, từng trải đến chừng nào thì trong một khoảnh khắc thẳm sâu nào đó cũng trở nên bơ vơ và chống chếnh vô chừng.
Mất mát rồi sẽ qua, cuộc sống lại trở về với quy luật vốn có. Thắp một nén trầm nhang, cầu xin linh hồn ông, một vị tướng, một giáo sư xuất sắc mà tôi vô cùng kính trọng và ngưỡng mộ được an lạc trong cõi vĩnh hằng
