Từ một trinh sát Công an đến nhà biên kịch nổi tiếng
Ông khiêm tốn nhận mình là nhà văn “hạng 2”, nhưng nhìn vào số lượng kịch bản đồ sộ của ông với nhiều tác phẩm đã đi vào lịch sử điện ảnh nước nhà như, “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”, “Em bé Hà Nội”, “Mối tình đầu”, “Thành phố lúc rạng đông”, “Tọa độ chết”, “Bông hoa rừng Sác”... sẽ thấy ngay đóng góp quan trọng của ông với nền điện ảnh Việt
Là con trai út quan tri phủ (anh cả là Hoàng Tích Chu, nguyên chủ bút báo Đông Tây, anh thứ hai là họa sĩ Hoàng Tích Chù, từng được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh và anh kế tiếp là nhà văn Hoàng Tích Linh) nhưng Hoàng Tích Chỉ là con bà ba. Cha mẹ lại mất sớm nên tuổi thơ của ông khá lận đận.
Cách mạng Tháng Tám nổ ra, 14 tuổi, Hoàng Tích Chỉ đã trở thành trinh sát của Ty Liêm phóng Bắc Ninh, rồi trở thành Đội trưởng Đội Điệp báo khi mới 16 tuổi. Năm 1956, ông chuyển ngành sang Ty Văn hóa và từ đó, gắn cả cuộc đời với môn nghệ thuật thứ bảy. Nhưng, “dù đã trải qua nhiều công việc, với tôi, ngành Công an vẫn là nơi ân tình sâu nặng. Tôi được ngành Công an chăm sóc chu đáo khi mới chập chững vào đời, được rèn giũa tính kỷ luật, khiêm nhường cũng từ đây” - Ông tâm sự như vậy.
Tốt nghiệp lớp biên kịch năm 1963, Hoàng Tích Chỉ về Hãng phim truyện Việt
Năm 1965, cùng đội ngũ văn nghệ sĩ lên đường vào mặt trận, Hoàng Tích Chỉ và Hải Ninh cũng đạp xe ròng rã hàng tháng trời đến thực tế tại các vùng quê trong tầm đạn lửa, mở đầu sự hợp tác giữa hai người nghệ sĩ tài hoa, để trên chặng đường 10 năm, họ đã để lại cho điện ảnh Việt Nam những đỉnh cao nghệ thuật. Các vấn đề mà hai nghệ sĩ chọn không chỉ mang tính xã hội, mà cách phản ánh cũng đầy trí tuệ và thấm đẫm mồ hôi sáng tạo.
Một tuần sống ở làng chài Nhơn Trạch (Quảng Bình), giữa tiếng gầm gào của bom pháo, Hoàng Tích Chỉ đã hoàn thành kịch bản phim “Biển gọi”, phản ánh chân thực cuộc sống và chiến đấu của những người ngư dân nơi đây. Giải bạc dành cho phim thêm một lần khẳng định tài năng và lao động nghệ thuật miệt mài của ông.
Trở lại Cửa Tùng, một đêm tối trời, ông và đạo diễn Hải Ninh được công an giới tuyến giới thiệu với một phụ nữ là bí thư chi bộ ở bờ Nam sang bờ Bắc công tác. Câu chuyện đau thương của cuộc đời người nữ chiến sĩ sống giữa lòng địch đã đọng lại trong tâm trí hai người nghệ sĩ, dù họ không biết tên, bởi chị hứa “khi nào đất nước thống nhất sẽ cho biết tên”. Với nguyên mẫu đó, ban đầu, nhà văn Hoàng Tích Chỉ viết kịch bản lấy tên “Bão tuyến”, nhưng khi đạo diễn Hải Ninh tham gia, tác phẩm được đổi thành “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”.
Sự phối hợp đầu tiên giữa hai người nghệ sĩ giàu sáng tạo và vô cùng nghiêm túc trong lao động nghệ thuật đã mang đến cho điện ảnh Việt
Được trau chuốt kỹ lưỡng từ kịch bản đến khâu đạo diễn, lựa chọn diễn viên, lại được Lực lượng Công an tạo mọi điều kiện để đoàn làm phim thâm nhập thực tế ngay tại đồn Cửa Tùng nhiều ngày, bộ phim đã phản ánh chân thực và đậm nét một giai đoạn lịch sử đau thương mà hào hùng, bất khuất của dân tộc. Từ câu chuyện điển hình và vô cùng xúc động về cuộc đời một người phụ nữ, số phận người dân trong cảnh đất nước bị chia cắt đã hiện lên thật rõ nét, làm lay thức tình cảm của nhiều khán giả trên thế giới. Phim đã giành được giải thưởng của Liên hoan phim quốc tế Matxcơva, và Giải thưởng của Hội đồng hòa bình thế giới.
Giữa những ngày Hà Nội chìm trong khói bom của trận không chiến 12 ngày đêm năm 1972, đạo diễn Hải Ninh tình cờ đọc được mẩu báo viết về một chị công nhân nhà in quên mình cứu những đứa bé trong nhà trẻ. Cũng thời điểm đó, nhà văn Hoàng Tích Chỉ được nghe nghệ sĩ Tuệ Minh kể câu chuyện xúc động về đứa con nhỏ của chị đã xách cây đàn đi bộ từ Yên Viên về Hà Nội tìm mẹ dưới vệt B52. Cơ duyên lại kết nối cảm xúc của hai nghệ sĩ thành bài ca nghệ thuật tuyệt vời khi những câu chuyện ấy đã tác động mạnh tới trái tim luôn khắc khoải vì đồng loại của cả nhà biên kịch lẫn đạo diễn. 3 ngày 3 đêm không ngủ, nhà văn Hoàng Tích Chỉ đã viết xong kịch bản phim “Em bé Hà Nội”, cũng là lúc cô con gái báo tin: “Níchxơn ngừng bắn ở vĩ tuyến 20 rồi bố ạ!”.
Một lần nữa, hiện thực lại chắp đôi cánh cho sự sáng tạo, để lịch sử điện ảnh Việt Nam được rung ngân niềm tự hào với bộ phim “Em bé Hà Nội”. Thông qua câu chuyện một em bé Hà Nội để phản ánh trận “Điện Biên Phủ trên không” quả là cách tiếp cận đề tài độc đáo và cảm động của các tác giả. Vì thế, như nhịp cầu lương tri và lòng nhân ái, “Em bé Hà Nội” không chỉ giành Bông sen Vàng tại LHP Việt Nam mà còn gây sự chú ý đặc biệt của khán giả nước ngoài. Tại LHP quốc tế ở CHDC Đức (cũ), phim được trao Giải thưởng đặc biệt. Nữ giám đốc một hãng phim CHDC Đức (cũ) khi được nghe ông kể lại chuyện về “Em bé Hà Nội”, đã lặng đi vì xúc động.
Sự kết hợp ăn ý của “cặp bài trùng” Hoàng Tích Chỉ – Hải Ninh trong việc lựa chọn những vấn đề có tính thời khắc lịch sử và phản ánh bằng cả tài năng, tâm huyết, đã tiếp tục tạo nên những điểm nhấn nghệ thuật với các phim “Mối tình đầu” (Giải bạc LHP Quốc tế tân hiện thực cho phim), tiếp đó là “Thành phố lúc rạng đông”. Trong khi hàng trăm ống kính của đủ các hãng thông tấn nước ngoài hăm hở ghi lại cảnh sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, hai nghệ sĩ đã đi vào một khía cạnh khác của ngày thống nhất với rừng cờ, hoa, nụ cười và nước mắt … Chính cái nhìn mới mẻ này đã làm nên điều kỳ diệu: 12 vị giám khảo tại LHP Quốc tế Lai-xich đã cùng chấm điểm 10 cho “Thành phố lúc rạng đông” và trao Giải thưởng lớn Bồ câu vàng cho phim. Suốt 16 năm của LHP Quốc tế, đây là phim thứ 2 đạt điểm tuyệt đối mà trước đó, chỉ có phim “Chủ nghĩa phát xít thông thường” giành được.
Thật tiếc là sau đỉnh cao này, nhà văn Hoàng Tích Chỉ và đạo diễn Hải Ninh không còn tiếp tục hợp tác. Nhắc lại chuyện ấy, nhà biên kịch tài ba không giấu nổi tiếc nuối: “Sau đó, tôi cũng chẳng gặp được đạo diễn nào tri âm đến thế, đạo diễn Hải Ninh cũng vậy, nên cùng với những lý do khác, chúng tôi không có được những dấu ấn như trước nữa!”.
Dẫu vậy, nhà văn Hoàng Tích Chỉ vẫn gặt hái không ít thành công qua hàng loạt phim: “Đứa con người hàng xóm”, “Cuộc chia tay mùa hạ”, “Tọa độ chết” (hợp tác với Liên Xô (cũ), “Dòng sông khát vọng”, v.v... Từ năm 1989, dù đảm đương cương vị Giám đốc Hãng phim truyện I, ông vẫn vừa biên kịch, vừa đạo diễn nhiều phim cả nhựa lẫn truyền hình: “Người đàn bà bị săn đuổi”, “Bông hoa rừng Sác”, “Mối tình người câm”, “Gọi tình yêu quay về”, “Người Hà Nội”, v.v... Ông còn ghi lại dấu ấn ở mảng phim tư liệu với “Đi tìm người chiến sĩ đặc công rừng Sác”, “Nguyên Hồng – đôi dòng ký ức”, “Nhà văn Kim Lân”, “Văn Cao”, v.v...
Trải qua gần nửa thế kỷ cùng phim trường với bao thành công đáng mơ ước, nhưng nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ vẫn khiêm tốn tự nhận rằng, mình đâu có tài gì, chẳng qua là người may mắn khi bước chân vào nghề là được bắt ngay vào giai đoạn đầy biến động của lịch sử, rồi lại được sống ở tâm “bão” của thời đại nên mới có cơ hội chạm đến những vấn đề độc đáo, có tính dân tộc như vậy.
Những tưởng ông đã có thể bằng lòng với hạnh phúc được đi dọc chiều dài một phần lịch sử dân tộc, được chứng kiến và phản ánh dưới ánh sáng huyền diệu của nghệ thuật, để sự thật lịch sử lắng lại đầy sức sống trong trái tim bao người. Nhưng thật bất ngờ khi “còn một điều tâm huyết của tôi vẫn nằm ở đây” – ông nói vậy, và đưa cho tôi xem kịch bản “Takano và đóa phù dung”. Tác phẩm viết về Takano, một hàng binh Nhật, là đồng đội của ông thời chống Pháp, đã chiến đấu và hy sinh tại Bắc Giang. Đám tang Takano có khá đông người dân vùng quan họ đưa tiễn trong sự tiếc thương ám ảnh ông mấy mươi năm qua… Ông không muốn kể, nhưng tôi biết, kịch bản phim đang được phía Nhật chuẩn bị thực hiện với kinh phí mấy chục triệu đôla Mỹ. Đó cũng có thể là một đỉnh cao nghệ thuật để vinh danh trong chặng cuối cuộc đời của lão nghệ sĩ lắm chứ!
