Từ hai chuyên án, tôi đã viết “Ổ quỷ”

Thứ Ba, 29/11/2005, 09:35

Tiểu thuyết “Ổ quỷ” được NXB Công an nhân dân ấn hành năm 1991, dịp tháng 8. Tôi hoàn thành bản thảo này vào mùa đông năm 1990. Tác phẩm dự thi viết về người phụ nữ trên mặt trận bảo vệ An ninh Tổ quốc.

Nhân vật quý mến và trân trọng của tôi trong cuốn tiểu thuyết này là Thiếu tá Phúc Ngọc - người phụ trách và nữ sĩ quan công an trẻ - Thiếu úy Đoài Sơn. Nhân vật tôi vừa giận vừa thương là ba cô gái có tên là Thương Thương, Thùy Thương và Dự Thương. Kẻ tôi căm giận là chủ quán Trầm Thương.

Tiểu thuyết kể về ba cô gái xinh đẹp, duyên dáng, tuổi mười bảy, đôi mươi đã lầm lạc gửi mình vào quán Trầm Thương. Họ cứ tưởng sẽ tìm được cơm ăn, việc làm tử tế nào ngờ đã sa vào “Ổ quỷ”. Bọn chủ chứa, ma cô mặt người, dạ thú đã triệt để khai thác các cô như một món hàng. Chúng biến vẻ đẹp ngoại hình, sự trong trắng ngây thơ của các cô trở thành miếng mồi người hấp dẫn, ngày ngày câu nhử khách làng chơi…

Trong “Ổ quỷ” các cô gái đã bị biến chất. Phố Trần Ai nơi các cô sinh sống, Trầm Hương quán, nơi các cô u mê hành lạc thành chốn sa đọa, nơi hủy hoại thân xác và tâm hồn con người, biến vẻ đẹp phụ nữ thành miếng thịt sống bày bán nơi chợ chiều, chợ sớm.

Bìa tiểu thuyết "Ổ quỷ".

Núp dưới cái tên mỹ miều, duyên dáng là Trầm Hương quán làm vui cho con người thực chất lại là nơi nhuộm bùn nhân cách con người.

“Ổ quỷ” đã bị theo dõi, phát hiện. Vẻ ngụy trang diêm dúa ban ngày với nụ cười xởi lởi của kẻ ác đã bị xé toang. Mặt trái trần trụi đã bị phơi bày. Các cán bộ chiến sĩ công an, cùng những người tốt, người có trách nhiệm trong khối phố bằng tình thương của mình đã vào cuộc chiến đấu chống lại bọn người ác tâm, vụ lợi, cứu các cô gái lầm lạc ra khỏi vũng bùn nhơ nhuốc, đưa họ trở lại cuộc sống lương thiện.

Mụ chủ quán đã bị trả giá. Các cô gái, bằng những hoàn cảnh riêng của mình, có sự giúp đỡ trực tiếp của công an đã tìm lại được vẻ đẹp của cuộc sống mà tu đức làm người…

“Ổ quỷ” là một cuốn tiểu thuyết lấy tệ nạn là đối tượng miêu tả, cảnh báo. Với hơn ba trăm trang sách in là số phận, hoàn cảnh, chi tiết với một mảng phong phú về nhân thân gốc của các đối tượng cùng nét bề bộn, nhơ nhớp, pha tạp, lỳ lợm, trâng tráo và vật dục của thực tế lầu xanh, nếu không có nhân chứng, vật chứng, hồ sơ hỗ trợ, tôi khó có thể hoàn thành cuốn tiểu thuyết của mình.

“Ổ quỷ”, cuốn tiểu thuyết viết về tệ nạn xã hội, cảnh báo một lối sống xác thịt mang tính thương mại - mãi dâm và mại dâm - không dễ gì có được với tôi nếu không có một khởi động mang tính chuyên ngành, cũng mang tính xã hội - ấy là khi Lực lượng Công an trong cả nước thực hiện Chỉ thị 135 của Chính phủ, đồng loạt ra quân tấn công tội phạm, truy quét và loại trừ các tệ nạn xã hội. Tôi là một người viết thuộc lực lượng viết công an có mặt trong ngày đầu tiên đó ở Hà Nội.

Sáng sớm ấy, tôi  có mặt ở Hội trường Công an quận Ba Đình dự cuộc giao ban đầu tiên khi thực hiện Chỉ thị. Không khí của buổi giao ban sôi động. Ba Đình là quận trung tâm của Hà Nội nên mặt bằng về an ninh, trật tự có phần đỡ phức tạp hơn các quận khác. Sau buổi họp này, tôi tiếp tục sang Công an quận Hoàn Kiếm. Lãnh đạo Công an quận Hoàn Kiếm đã giới thiệu tôi xuống Công an phường Tràng Tiền. Đồng chí Phó chỉ huy Công an quận phụ trách điều tra và hình sự nói với tôi:

- Ở dưới đấy, giữ và xử lý một vụ mua bán dâm, theo tôi là khá đặc biệt, anh nên xuống ngay tìm hiểu.

Tại Công an phường Tràng Tiền, sau khi giới thiệu qua về mục đích của mình, tôi đã được một sĩ quan hình sự dẫn đến chỗ tạm giữ đối tượng. Trong căn phòng nhỏ có hai cô gái, một nằm co trên ghế băng, một ngồi khoanh tay ở góc tường. Một cái bàn nhỏ kê giữa họ có hai chiếc bánh mỳ đã bẻ ăn ít nhiều, có vài chú ruồi đen đang bậu. Tôi gọi họ dậy để trò chuyện.

Cô nằm co trên ghế băng vội vã ngồi dậy, tay vuốt tóc, vuốt mặt. Tôi nhận ra một khuôn mặt đẹp, da mịn trắng, môi đỏ. Riêng đôi mắt có quầng đen và mái tóc bù xù có lẽ đêm qua không ngủ được đã sinh ra chuyện này. Cô gái thưa chuyện: “Cháu hai sáu tuổi, tên…”. Tôi bảo: “Cứ xưng em cho tự nhiên”. Với thái độ ân cần của tôi, cô gái có vẻ bình tĩnh hơn. Cô nói, cô hai sáu tuổi, có một con. Gia đình cô ở dưới N. Bố mẹ cô là thầy thuốc. Đứa con của cô không có bố nên bị gia đình hắt hủi phải đưa con lên Hà Nội kiếm sống.

Mới đầu cô chỉ buôn bán vặt, chén nước, điếu thuốc sau có một người đàn ông gạ cô đi chơi sau nhiều lần đến uống nước, hút thuốc làm quen. Cô đã nhẹ lòng đi theo người đàn ông đó. Việc không thành vì gã ta đã có vợ, có con.--PageBreak--

Gã bảo, thấy em xinh, tôi yêu, tôi bao nhưng lấy em thì không thể. Cô thất vọng lại quay về với nghề bán chè chén. Có một mụ sau khi qua lại nhiều lần đã bảo cô: “Xinh đẹp như em thế này ngồi bán nước nó phí đi”. Ít lâu sau, nghe lời đường mật của mụ, cô về với mụ làm gái bán hoa. Cô nói: “Đã một lần nhơ nhuốc rồi, em chẳng còn danh giá gì nữa nên cứ chặc lưỡi cho qua”. Tôi nói:

- Thật tiếc. Nếu thấy em ở ngoài đường, không biết em làm chuyện này sẽ có khối đàn ông theo đuổi!

Tôi không nói sai lòng mình. Tôi nghĩ vậy và nhìn cô gái với đôi mắt thông cảm. Tôi đã nhìn thấy đôi giọt nước mắt chảy ra trên gò má cô. Đêm qua cô bị bắt vì tội ăn nằm với một ông cao tuổi công tác ở một tỉnh miền núi về Hà Nội họp. Cô bị bắt trong góc nhà ăn của một cơ quan do lão bảo vệ cho thuê để lấy tiền uống rượu.

Cô gái thứ hai, tuổi trẻ hơn, khoảng mười sáu, mười bảy gì đó. Cô bé bị bắt khi đang bán dâm cho một gã to con, người ở dưới bãi sông. Nhìn cô bé gầy khẳng, thân thể chưa ra hẳn một hình thù thiếu nữ vậy mà đã hành nghề bán  dâm được gần năm nay. Tôi hỏi gia cảnh, cô bé chỉ lắc đầu; hỏi về bố mẹ, cô bé cũng lắc đầu. Hình như gia đình đối với cô bé không có ý nghĩa gì nữa. Trước thái độ lì lì ấy tôi chỉ thấy thương nhiều hơn giận.

Sau thì tôi cũng tìm ra tung tích cô bé. Nhà cô bé ở một quận của Hà Nội. Bố cô suốt ngày rượu chè, say mê đề đóm, đến quên cả con. Cô bé đi đêm không ai quản, đi chơi không ai nhắc nhở. Lâu rồi, cô thành đứa con hoang trong gia đình. Lang thang giữa những phố hè bụi bậm, phức tạp cô đã lấy “thế mạnh” của mình ra kiếm tiền, lâu rồi quen, rồi nhờn. Cô bị bắt cũng tại chỗ nhà ăn cho thuê của gã bảo vệ hư hỏng, ham tiền. Thấy tôi hỏi nhiều, khuyên nhiều, cô gái bất chấp tất cả, gắt lên:

- Chú không thấy cháu đã đủ nhục rồi hay sao mà cứ hỏi mãi.

Lúc ấy tôi chỉ biết thở dài!

Ít lâu sau ở Thanh Xuân, nơi tiếp giáp địa bàn Hà Tây và Hà Nội, công an hai tỉnh và thành phố đã phối hợp hốt gọn một ổ chứa, gồm chủ chứa, bọn dắt mối và một nhóm các cô gái làm tiền ở địa bàn có nhiều nhà nghỉ và quán xá ăn chơi. Vụ án được khởi sự từ nguồn tin của quần chúng, sự tỉ mỉ trong trinh sát điều tra. Cán bộ, chiến sĩ công an ta đã hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Sau vụ việc này tôi có vào thị xã Hà Đông để tìm hiểu.

Anh Ngọc Liệu, bạn học với tôi ở Sơn Tây, lúc ấy là Trưởng Công an thị xã Hà Đông đã đưa cho tôi xem hồ sơ của vụ án. Tập hồ sơ không dày, toàn tên con gái, tuổi còn rất trẻ, chỉ trên dưới hai mươi, quê ở nhiều nơi, đều gốc gác đồng ruộng, có học và ít học, theo nhau ra phố, bị mẹ mìn dụ dỗ, bị đồng tiền và lối sống phù phiếm quyến rũ đã lần lượt rơi vào “Ổ quỷ”. Bạn tôi bảo: “Bán hoa có thâm niên đấy ông ạ! Bố mẹ ở nhà có người nghĩ con ra thành phố để học hành, lao động. Có ai ngờ lại đứng đường, ngủ bụi. Nhiều người hết nước mắt vì con. Thật đau lòng!”.

Từ Chỉ thị 135, từ chuyến đi thực tế ở Công an phường Tràng Tiền (Hà Nội) và đọc hồ sơ ở Công an thị xã Hà Đông (Hà Tây) cùng những việc tai nghe, cả mắt thấy nữa tôi đã viết tiểu thuyết “Ổ quỷ” bằng tấm lòng bao dung và nghiêm khắc của đồng đội mình, của chính mình đưa đến người đọc một thực tế xấu, từ đó thức dậy lương tâm và đạo đức của kẻ sa ngã, trách nhiệm của xã hội, của mỗi gia đình.

Trong cuốn “Ổ quỷ” được xuất bản cách đây mười bốn năm, tôi dành cho các nhân vật sa ngã của mình một nỗi đau thân phận, một sự hối tiếc về thanh sắc, một sự thức tỉnh thân tình…

Truyền thống phương Đông, phong tục phương Đông nhất là ở ta đau gì hơn, ô nhục gì hơn khi bị gắn, phải gắn vào người hai chữ “làm điếm”. Trời đất đã sinh ra phụ nữ, phần đẹp nhất, hấp dẫn nhất của nhân loại để được được ta yêu thương và trân trọng. Tôi nghĩ thế và mong muốn được như thế đối với tất cả!

.
.
.