Từ giáp cốt văn đến máy vi tính
Nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1/10/2006), Câu lạc bộ giao lưu văn hóa Việt - Trung và Thư viện quốc gia Hà Nội đã phối hợp với Phòng Văn hóa Đại sứ quán Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam tổ chức trưng bày triển lãm "Chữ Hán - từ giáp cốt văn đến máy vi tính".
Đây là một triển lãm lưu động được Trung Quốc tổ chức thành công tại nhiều quốc gia trên thế giới, và nay đến Việt
Thông qua bản sơ đồ diễn biến quá trình hình thành và phát triển của chữ Hán mới thấy hết sự thần bí của một trong những chữ viết có lịch sử lâu đời nhất trên thế giới. Có người nói rằng, chữ Hán được hình thành từ những vết chân chim, hay từ những sợi dây thắt nút, được đặt tên là "thắt nút ký sự", cách ghi lại sự kiện của người Trung Quốc cổ đại. Dòng chảy của chữ Hán tiếp tục với Kinh Đông Ba - văn tự dân tộc Naxi (chữ viết hình vẽ còn tồn tại đến ngày nay), cho đến giáp cốt văn thời nhà Thương (khoảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ 11 trước Công nguyên), những văn tự cổ được khắc trên xương hoặc mai rùa; từ chữ Hán khắc trên thẻ tre, thẻ gỗ cho đến chữ Hán trong bức Hầu Mã Minh Thư của thời Xuân Thu (từ năm 770 đến năm 476 trước Công nguyên).
Có thể nói, sau khi kết thúc 3 đời Hạ, Thương, Chu, đến thời kỳ Hán Nguỵ, Trung Quốc bắt đầu bước vào một thời kỳ văn hóa mới, một trào lưu mới - từ khoa học, văn hóa đến nghệ thuật, triết học đều đã đặt những cơ sở và nền tảng vững chắc cho văn minh Trung Hoa sau này. Và trải qua mấy nghìn năm, từ giáp cốt văn cho đến máy vi tính, chữ Hán đã thực hiện được sứ mệnh truyền tải nền văn minh Trung Hoa ra thế giới.
Chữ Hán có 5 loại, đó là chữ Lệ, chữ Khải, chữ Thảo, chữ Hành và chữ Hiện đại. 5 loại chữ này đều có xuất xứ từ 4 hệ chữ: chữ tượng hình, chữ tượng thanh, chữ hội ý và chữ chỉ sự. Riêng chữ Lệ đời nhà Hán được coi là một ranh giới giữa chữ Hán cổ với chữ Hán hiện đại lại được tạo ra từ trong nhà giam.
Được biết, cho đến nay các nhà nghiên cứu đều thống nhất với quan điểm của tác giả Hứa Thận đời Đông Hán khi ông tổng kết có 6 cách tạo nên chữ Hán. Người ta tìm thấy chữ Hán trên thẻ tre nước Sở thời Chiến quốc, chữ Hán trên ngọc và phiến đá, chữ Hán trên Đồng quyền, Hổ phù đời Tần, chữ Hán viết bằng dao - khắc triện, chữ Hán trên bao tay đời Tấn hay trên giầy thêu đời Đông Tấn, hay sách song ngữ chữ Hán và chữ Phạn cùng in...
Không thể bỏ qua phát minh của Vương Trinh khi ông chế tạo ra chiếc bàn chọn chữ Hán độc nhất vô nhị. Đối với quan lại thời trước thì bút, mực, nghiên, giấy là "tứ bảo văn phòng" - những thứ không thể thiếu tại nơi làm việc. Theo thống kê, trên thế giới hiện có trên 1 tỷ người biết chữ Hán, nhưng số người giỏi thư pháp (nghệ thuật viết chữ) không nhiều. Nhiều chuyên gia cho rằng, chữ viết của người Trung Quốc là hệ chữ duy nhất hiện còn được sử dụng trong khi vẫn không ngừng tiến hoá trong khoảng 35 thế kỷ qua. Tuy chữ Hán có một quá trình phát triển dài như vậy nhưng mãi tới năm 1950, hệ chữ tượng hình mới viết theo các "Bộ" và có phiên âm theo chữ cái La Mã.
150 hiện vật quý này sẽ giúp người xem hiểu nhiều hơn về khởi nguồn của chữ Hán cũng như sự phát triển của chữ Hán, loại chữ tượng hình đã được biến đổi dần theo thời gian cho phù hợp với sự phát triển xã hội và sự phức tạp, phong phú của giao tiếp hiện đại. Triển lãm còn mở cửa đến ngày 5/10
