Từ “dồi mài” trong Truyện Kiều
Thờ ơ gió trúc mưa mai
Ngẩn ngơ trăm nỗi dùi mài một thân
Trong đó, từ "dùi mài" được học giả Đào Duy Anh giảng là: "dùi mài: chỉ cái thân đau khổ như bị dùi, bị mài". Còn nếu hiểu theo nghĩa thông thường của Từ điển tiếng Việt: "dùi mài: cố công kiên nhẫn học tập cho tinh thông. Ví dụ: Dùi mài kinh sử", thì hóa ra Thúy Kiều lại chăm chỉ "học tập cho tinh thông" nghề kỹ nữ để kiếm tiền làm giàu sao?
Thực ra cả hai cách giải thích trên đều chưa phù hợp với hoàn cảnh của nàng Kiều. Lúc này, Thúy Kiều đã mắc mẹo lừa của Sở Khanh, cam chịu cảnh "Thân lươn bao quản lấm đầu" thì Tú bà đã xăng xái thuốc men, chăm lo bồi dưỡng cho tấm thân ngọc ngà được "nguyệt sáng, gương trong" mới hấp dẫn được "ong bướm dập dìu" chứ.
Do vậy cũng có nhà biên khảo đã giảng: "Dùi mài: là thui thủi chăm chút làm việc một mình, không ai đỡ đần cho". Đấy cũng chỉ là một cách giảng suy đoán, dựa vào hoàn cảnh thực tế lúc ấy mà gán nghĩa cho từ "dùi mài" mà thôi, chứ trong các từ điển và các tác phẩm văn học Việt Nam từ cổ chí kim chưa có ai dùng từ "dùi mài" với nghĩa là "thui thủi" cả.
Trước đây, ông Nguyễn Việt Hoài khi biên khảo cuốn Truyện Kiều xuất bản năm 1957 tuy "cầm lòng vậy" chọn từ "dùi mài" vào trong chính văn nhưng vẫn thắc mắc: "Không hiểu sao lại dùng chữ "dùi mài" ở đây, vì chữ "dùi mài" ở miền Nghệ Tĩnh là chăm chỉ mải miết vào một công việc gì".
Sở dĩ có điều khó hiểu trên là do các nhà biên khảo Truyện Kiều hiện nay đều chỉ dựa vào bản Đoạn trường tân thanh do cụ Kiều Oánh Mậu khắc ván in chữ Nôm năm 1902. Trong khi đó, theo sự tra cứu của tôi thì toàn bộ các bản Kim Vân Kiều tân truyện chữ Nôm cổ in từ thế kỷ XIX đều khắc ván chữ Nôm mà phiên âm ra quốc ngữ chính xác phải là: dồi mài.
Theo Tự điển Việt - Bồ - La của Alexandro de Rhodes in 1651 và Đại
+ Dồi: Nhận vào, dồn cho đầy, nhồi cho đầy.
+ Mài: Làm cho mòn, cà một vật gì để làm cho nó giảm bớt.
Và một điều khá lý thú trong bản "Sự tích ông Nguyễn Hầu" (tức Nguyễn Du) từ năm 1917, cụ Huỳnh Thúc Mậu đã viết: "Ngài nghĩ rằng mình là con nhà tướng, có tài văn học, dồi lòng tiết nghĩa nên chẳng khứng làm quan triều Ngụy".
Và trong tiếng Việt hiện đại thì từ dồi vẫn là giữ nét nghĩa như trên, nhưng không còn xuất hiện trong từ đơn dồi nữa mà nằm trong từ kép như:
Dồi dào: Nhiều đến mức cần bao nhiêu cũng đủ.
Trau dồi: Làm cho ngày càng trở thành tốt đẹp hơn, có chất lượng hơn. Hoặc dân dã hơn là khúc dồi lợn, dồi chó sở dĩ gọi là dồi vì chính là do ta đã "dồn cho đầy, nhồi cho đầy" các thứ phụ liệu vào.
Như vậy, từ dồi mài là một từ ghép đẳng lập mang nét nghĩa tương tự như đầy vơi. Và câu thơ Kiều đang bàn có thể sẽ là:
Ngẩn ngơ trăm nỗi, dồi mài một thân.
Ta hiểu ra nỗi buồn của Thúy Kiều trong cảnh làm kỹ nữ ở lầu xanh chịu cảnh "bướm chán, ong chường" không có bạn tri âm nên nỗi niềm tâm sự đó muốn mài cho mòn vơi đi, nhưng càng mài bao nhiêu càng dồi đầy bấy nhiêu. Suy ngẫm kỹ ta chợt phát hiện ra nghĩa của từ ghép dồi mài cũng phong phú như câu thơ: "Sầu đong càng lắc càng đầy".
Vậy dựa vào các chữ Nôm đã được khắc ván in trong hầu hết các bản Kiều Nôm cổ và cách giảng nghĩa của các từ điển cổ cùng với văn phong của Thi hào, chúng ta có thể vững tin đọc câu thơ diễn tả tâm trạng của Thúy Kiều khi ở lầu xanh là:
Thờ ơ gió trúc mưa mai
Ngẩn ngơ trăm nỗi dồi mài một thân
