Từ điển cũng rất đáng ngờ

Thứ Sáu, 21/07/2006, 08:30

Cùng trong “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam" (bộ mới), NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh xuất bản đầu năm 2006, nhưng thông tin về quê quán của hai anh em nhà văn Nguyễn Công Hoan và Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương) lại khác nhau.

Đầu tháng 6, một tờ báo đưa tin kỷ niệm ngày mất Nhà văn Nguyễn Công Hoan có nói quê ông ở tỉnh Hải Dương. Tôi hỏi tác giả bài đó thì được trả lời: Đã tra từ điển hẳn hoi. Vậy là lỗi tại từ điển?

Tôi biết một cách làm hay của Trung tâm Từ điển học khi phát hành một cuốn từ điển đã kèm thư ngỏ ý xin tặng sách cho bạn đọc nào phát hiện được sai sót về nội dung sách, đồng thời sẽ có thư cảm ơn.

Trong khi đó, có nhà xuất bản nhận được thư góp ý của tôi về từ điển không thèm hồi âm lấy một lời. Có lần tôi gửi thư cho người biên soạn từ điển góp ý và cung cấp tư liệu, tác giả cũng quên luôn việc trả lời.

Phải nói rằng, bây giờ sách công cụ, trong đó có các loại từ điển, sổ tay, sách tra cứu... đang thực sự bùng nổ. Đó là điều đáng mừng vì từ điển giúp giải đáp tức thì nhiều câu hỏi của bạn đọc. Từ điển chính là người thầy, người bạn đáng kính giúp ta học hỏi lâu dài.

Tuy nhiên, có những vấn đề nảy sinh khi từ điển không được biên soạn, biên tập một cách công phu, không đảm bảo chính xác về nội dung. Một trong những chuyện đó là các địa danh được in, giải thích không đâu vào đâu.

Ví dụ, trang 752, cuốn "Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam" (bộ mới), NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh xuất bản đầu năm 2006, mục Nguyễn Gia Cát ghi: "Quê làng Huê Cầu (Xuân Cầu), huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc (nay là xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên)".  Ở Văn Giang có xã Xuân Quan, nhưng xã đó không có làng Xuân Cầu. Đúng ra Nguyễn Gia Cát quê ở xã Nghĩa Trụ.

Sách trên, trang 696, mục "Nguyễn Công Miều" (Lê Văn Lương) ghi: "Quê xã Xuân Cầu, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên (nay vẫn là tỉnh Hưng Yên), em ruột nhà văn Nguyễn Công Hoan".

Vẫn là Xuân Cầu của Nguyễn Gia Cát, nhưng làng bị nâng lên là xã mất rồi và tên huyện từ Văn Giang (đúng) hóa thành Văn Lâm (là huyện bên cạnh). Thiết nghĩ, "tỉnh Hưng Yên" thì bạn đọc đủ hiểu, cần gì phải chua thêm "nay vẫn là tỉnh Hưng Yên" nữa cho mệt?

Trang 694, sách trên, mục Nguyễn Công Hoan thì ghi: "Quê ở thôn Nghĩa Trụ, Văn Giang, huyện Xuân Cầu (tỉnh Hưng Yên)". Tên xã bị biến thành tên thôn, tên thôn bị biến thành tên huyện, tên huyện trở thành tên xã, tên tỉnh thì tự nhiên bị đóng trong ngoặc!

Hai anh em mà quê ở hai xã, hai huyện khác nhau như trên thì còn gì buồn cho bằng. Nếu còn sống, nhà văn Nguyễn Công Hoan chắc chắn sẽ có một truyện trào phúng hay về kiểu biên soạn, biên tập như trên.

Nguyễn Công Hoan là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng từ điển trên (trang 695) chỉ ghi chức vụ "Ủy viên Ban Thường vụ" mà thôi. Về giải thưởng mà nhà văn được tặng cũng sai nốt: Làm gì có "giải Hồ Chí Minh và Văn học nghệ thuật" (đúng ra là Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật).

Những nhân vật khác của làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên được "xử lý" thế nào trong từ điển trên? Trang 1279, mục "Tô Trân" ghi "Quê xã Hoa Cầu (sau đổi là Xuân Cầu), huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh". Chỉ đúng được mỗi tên huyện!

Trang 1278, mục "Tô Ngọc Vân" ghi quê "Làng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên". Thiếu tên xã.

Trang 1266, mục "Quản Danh Dương" ghi: "Quê làng Hoa Cầu, huyện  Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh". Thiếu tên xã, sai tên tỉnh.

Trang 1266, mục "Quản Đình Du", ghi như trên, nghĩa là cũng thiếu tên xã, sai tên tỉnh.

Trang 1277, "mục Tô Hiệu", ghi "quê làng Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hải Dương". Lại sai tên tỉnh.

Trang 1238, mục "Phan Văn Ái", ghi "quê làng Đồng tỉnh, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên" là đúng nhưng vẫn thiếu tên xã.

Những địa danh khác thuộc Bắc Ninh, Hà Tây... cũng bị sai nhiều. Chẳng hạn "Đặng Chất" (trang 165) quê làng Phù Đổng, nay thuộc Gia Lâm, Hà Nội thì bị ghi là "tỉnh Bắc Ninh (nay là Hà Bắc)".

Nếu như tác giả, nhà xuất bản áp dụng cách thưởng cho mỗi người phát hiện sai sót một cuốn sách thì với số lượng in 700 cuốn (như ghi trong sách) chắc gì đã đủ để thưởng.

Ngày đi học ở quê tôi thấy các sách đều nói Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, quê ở Phủ Thượng Hồng, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương, thì nghĩ: Bao giờ mới biết rõ quê cụ nay là xã, huyện nào. Về sau mới biết địa danh quê cụ là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Trang 462 của Từ điển trên ghi "quê xã Liêu Xá (đúng), Phủ Thượng Thống (sai)" và không nói hiện là huyện, tỉnh nào.

Một lần về Hương Sơn (Hà Tĩnh) hỏi thăm mộ cụ Lê Hữu Trác, người dân nói không biết. Tôi hỏi mộ cụ Hải Thượng Lãn Ông thì người đó chỉ được đường tới mộ. Tại Hà Nội có phố Lãn Ông, theo tôi tên phố như vậy chưa chuẩn. Phải là phố Lê Hữu Trác hoặc Hải Thượng Lãn Ông cũng được.

Tôi đề nghị tác giả và nhà xuất bản cần tham khảo cuốn "Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam" (NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1998) nhằm chuẩn hóa các địa danh hoặc có cách thẩm định nội dung qua các cơ quan chức năng để lần tái bản sau đỡ sai sót hơn

Thạnh Đằng
.
.
.