Tri thức Thăng Long ở vùng đất linh

Chủ Nhật, 05/07/2009, 11:50
Phải chăng Tháp Bút với ba chữ son Tả thanh thiên là tư tưởng của Nguyễn Văn Siêu, của trí thức Hà thành buổi ấy trước những nhiễu nhương của một nhà nước phong kiến đã qua thời hưng thịnh đang sa vào những bê bối trong thói tục cuộc sống. Biết mà chưa làm gì được, đau nhưng chưa có cách để chữa đau nên đành phải lấy cái chí của tâm thiện để thể hiện bản thể con người kẻ sĩ trước thế cuộc.

Thơ về hồ Hoàn Kiếm có nhiều, từ cổ chí kim. Không ít khách bút mực đã có thơ có văn về chốn địa linh hồ. Có một bài thơ này, những câu thơ này của Nguyễn Văn Siêu, người đã từng sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, người con  của Thăng Long thế kỷ XIX:

Nhất trản trung phù địa
Trường lưu đảo tải thiên
Ngư châu xuân tòng khách
Hồi trạo túc hoa viên!

Nghĩa rộng diễn ra văn xuôi được hiểu là:

Đền Ngọc Sơn với  hồ Hoàn Kiếm như là một hòn đất nổi trong lòng chén nước.

Mặt hồ trải dài theo gợn sóng như muốn xáo động nước mây để chở cả bầu trời đi theo.

Thuyền cá trên mặt hồ xuân mê mải đưa khách đi dạo.

Khi quay chèo trở về cập bến khoan khoái  ngủ bên hoa.

Bài thơ, theo kể lại là cảm hứng của Nguyễn Văn Siêu được nhìn từ trên lầu chuông xuống hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn. Bài thơ là cảm quan lạ về đời thực cùng vẻ huyền ảo trước bát ngát của hồ Hoàn Kiếm. Đây có thể coi là một thi phẩm đặc sắc về hồ Hoàn Kiếm của người xưa.

Nguyễn Văn Siêu được người đương thời tôn sùng là "Thần Siêu" bên cạnh "Thánh Quát" người bạn tri âm tri kỷ của cụ. Cụ Siêu sinh năm 1799, mất năm 1872. Cụ người làng Kim Lũ, tục gọi là làng Lủ, xã Đại Kim, huyện Thanh Trì cũ, nay đất ấy đã là một phường của một quận nội thành Hà Nội. Sinh ra ở làng Lủ nhưng ngay từ bé, Nguyễn Văn Siêu đã ra ở thôn Cổ Lương, tổng Đồng Xuân vùng đất thuộc cửa sông Tô nối nguồn từ sông Hồng.

Cụ là học trò giỏi của thầy giáo nổi tiếng Hoa đường Phạm Quý Thích. Năm 26 tuổi, Nguyễn Văn Siêu đỗ thứ hai kỳ thi Hương. Năm 1838, cụ thi đỗ phó bảng và ra làm quan cho triều đình nhà Nguyễn. Cụ đã từng là Thị giảng học sĩ, Phó sứ triều đình Nguyễn đi sứ sang nhà Thanh làm công tác bang giao, là quan án sát ở các tỉnh Hà Tĩnh, Hưng Yên. Vào tuổi 55, năm 1854, nản chí trước đời sống quan trường cụ đã cáo bệnh với bề trên để xin về hưu trước tuổi.

Thôi nghiệp quan, Nguyễn Văn Siêu theo đuổi nghiệp làm thầy. Cụ mở Trường Phương Đình dạy học. Người mộ chữ kéo về theo học thầy Siêu rất đông. Ngoài giờ dạy học trò, cụ chú tâm vào việc viết sách. Sách của cụ gồm nhiều thể loại gồm lịch sử, địa lý, kinh tế, nghiên cứu văn chương và thơ văn sáng tác.

Các tác phẩm của cụ Nguyễn Văn Siêu có thể kể đến là: Phương Đình dư địa chí, Phương Đình tuỳ bút lục, Phương Đình thi văn tập… Các tác phẩm này sau ngày cụ mất đã được các học trò sưu tập và tuyển chọn lại in thành sách. Cụ Nguyễn Văn Siêu được đánh giá là một người Hà thành kiệt xuất, sống nhân ái hoà đồng, có khí phách, thâm hậu về sự học và đa tài về viết sách. Cụ là  một trong những vẻ đẹp văn hoá của tri thức Thăng Long - Hà Nội thế kỷ XIX.

Trội bật trong nghiệp đời, nghiệp học, nghiệp văn của Nguyễn Văn Siêu là những góp phần của cụ cho việc tôn tạo lại, bồi đắp thêm vẻ đẹp của hồ Lục Thuỷ đã có tên là hồ Hoàn Kiếm từ thuở vua Lê sau chiến thắng giặc Minh xâm lược đã trả Kiếm cho Rùa Vàng để chuyên tâm lo dựng nước.

Sự tích ấy đã làm nên huyền thoại tên hồ. Lâu nay người Hà Nội không ai là không biết đến một hồ Hoàn Kiếm có một Tháp Bút vươn cao trên núi Độc Tôn và một ngôi đền mang tên Ngọc Sơn dựng trên hòn đảo giữa hồ đã góp phần tạo nên vẻ đặc biệt của vùng đất, vùng nước trung tâm thành phố.

Tháp Bút đá ấy cao năm tầng với ba chữ son khắc nổi là Tả thanh thiên và ngôi đền Ngọc Sơn thờ người anh hùng cứu nước đã hoá thánh Trần Hưng Đạo và các vị thần của trí tuệ thuộc đạo người xưa là Văn Xương đế quân, Lã Đồng Tân, Thánh Quan. Sau này Ngọc Sơn còn thờ Phật nữa.

Đáng chú ý là tháp đá 5 tầng mang hình ngọn bút lông với lời đề từ sơn son Tả thanh thiên, dịch nôm là viết lên trời xanh, nhưng nó lại mang ý nghĩa lớn lao, có tầm tư tưởng sâu sắc trong sự suy rộng ra của tri thức người đời.

Điều này càng ngày càng tôn thêm vẻ sang trọng mang tính luân triết của cuộc sống được thể hiện trong cây tháp và dòng chữ. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc xây tháp đá lại là tháp 5 tầng, xây ở gần chùa (Đền Ngọc Sơn còn có tên gọi là chùa Ngọc Sơn) là có hàm ý mang tính Bồ Tát của đạo Phật, vì chúng sinh hoà cùng với phẩm hạnh thanh cao của một đạo Nho chán ghét cảnh xôi thịt chốn quan trường, muốn bước tới miền vô vi, về với cuộc sống thường nhiên trong sáng giữa muôn loài nơi cõi sạch của thiên tạo.

Phải chăng Tháp Bút với ba chữ son Tả thanh thiên là tư tưởng của Nguyễn Văn Siêu, của trí thức Hà thành buổi ấy trước những nhiễu nhương của một nhà nước phong kiến đã qua thời hưng thịnh đang sa vào những bê bối trong thói tục cuộc sống. Biết mà chưa làm gì được, đau nhưng chưa có cách để chữa đau nên đành phải lấy cái chí của tâm thiện để thể hiện bản thể con người kẻ sĩ trước thế cuộc.

Ông không thoát ly cuộc đời mà nhập thế bằng cách của riêng mình. Bằng việc bỏ công sức ra cho một công trình mang giá trị tinh thần cao của Hà Nội, của dân tộc, ông đã cùng mọi người tâm huyết đắp núi cao lên để dựng tháp, làm cầu nối bờ với đảo, tôn tạo gìn giữ tinh tuý và làm mới thêm những gì người xưa chưa làm được. Có thể nói Tháp Bút ở hồ Hoàn Kiếm là công trình tiêu biểu gắn liền với tâm huyết và công sức của cụ Nguyễn Văn Siêu.

Nếu chỉ kể riêng về Tháp Bút thôi nó vẫn chưa đủ nếu không cộng vào cùng Đài Nghiên được đặt làm mái nơi lối cổng vào cầu Thê Húc. Đài nghiên có bài minh khắc trên thành nghiên. Đây là điểm nhấn thêm cho tư tưởng của người gây dựng và tôn tạo công trình văn hoá tâm linh này.

Theo tác giả Nguyễn Vinh Phúc trong cuốn sách “Hà Nội cõi đất - con người” cho biết thì bài minh này do cụ Nguyễn Văn Siêu soạn và người viết chữ là cụ Vũ Tá Trữ, hiệu là Thọ Tháp. Bài minh viết theo lối chữ lệ. Nguyên văn như sau:

Cổ hữu huyệt địa tiến nghiễn
Chú Đạo Đức kinh
Nghiên đại phương nghiễn
Trứ Hán Xuân Thu
Thạc tư nghĩa dã,
Phi tượng hà hình
Bất phương bất viên
Diệu tồn chư dụng.
Bất cao bất hạ
Vị hồ quyết trung
Phủ Hoàn Kiếm thuỷ
Ngưỡng Thạch Bút phong
Ứng Thượng Thai nhi thổ vân vật
Hàm nguyên khí nhi ma hư không.

Được dịch như sau:

Xưa lấy hốc đất làm nghiên
Chú kinh Đạo Đức
Nghiền ngẫm bên nghiên lớn
Viết sách Hán Xuân Thu
Từ đá tách ra làm nghiên vậy,
Chẳng có hình dáng.
Không vuông, không tròn
Dùng vào mọi việc thật kỳ diệu.
Không cao không thấp,
Ngôi chính ở giữa
Cúi soi hồ Trả Gươm
Ngửa trông gò Bút Đá
Ứng vào sao Thiên Thai mà làm ra mọi biến đổi
Ngậm nguyên khí mà mài hư không

Chân dung Đài Nghiên qua ý tứ của bài minh quả là đa nghĩa. Nó không chỉ mang lẽ thông dụng mà trong đó hàm chứa cả sự phi thường của đạo học nữa. Đài Nghiên này không giống như những đài nghiên đựng mực khác của các ông đồ xưa thường lấy từ nguyên mẫu cũ. Đài Nghiên ở hồ Hoàn Kiếm mang hình trái đào bổ đôi. Đây là một kiểu cách điệu hoá cho nghiên mực.

Đài Nghiên hình nửa trái đào mang biểu tượng phúc lộc thọ của điều mình ước mong mọi chuyện được trọn vẹn như trái cây chín vậy. Đây cũng là sự trân trọng cung kính trước việc học, trước trí tuệ của con người qua hình tượng một trái quả mà người xưa rất quý, đó là trái đào. Kê cho Đài Nghiên là ba chú ếch đồng bụ bẫm mang dáng vẻ bền bỉ dân gian. Hình tượng này khiến ta liên tưởng đến những bác rùa đội bia, đội hạc ở chùa, ở đền, ở miếu…

Hai bên lối vào dưới Đài Nghiên là bảng Rồng bảng Hổ hướng phương Đông thể hiện cho vẻ đẹp thành đạt của nền khoa cử đất nước. Nơi đây có một đôi câu đối mô tả phong cảnh hồ cũng ngầm ý một tư cách:

Bát đảo mặc ngân hồ thuỷ mãn
Kình thiên bút thế thạch phong cao

Dịch là:

Tràn quanh đảo ngấn mực đầy hồ
Chạm bầu trời thế bút ngất núi

Trong mặt tiền của ngôi đền Ngọc Sơn, cụ Nguyễn Văn Siêu còn cho khắc đôi câu đối khác giống như một tuyên ngôn:

Đạo hữu chủ trương Đẩu Bắc văn minh chi tượng,
Nhân đồng chiêm ngưỡng Giao Nam lễ nhạc chi đô

Dịch là:

Đạo có chủ tế, đó là vẻ đẹp sáng của sao Bắc Đẩu
Người đều ngửa trông, ấy thật đô thành lễ nhạc của cõi Nam

Người xưa coi sao Bắc Đẩu là sao đứng đầu trong chùm sao Bắc Đẩu thất tinh, tượng trưng cho miền sáng cội nguồn của một đạo lớn. Đôi câu đối này viết ở Trung tâm Hà Nội lúc đất nước với Kinh đô đã chuyển vào Huế từ nhiều năm.

Ta nhận ra tấm lòng của Nguyễn Văn Siêu với Hà Nội cũng là sự thuyết phục của tầm vóc Hà Nội đối với nhận thức của một trí thức lớn về một nơi từng là đô chủ của nhiều bậc minh quyền để sau này khi nhà nước về tay chế độ mới nó được hồi nguyên vị thế kinh đô của mình. Phải chăng đây là cách phản ứng của một bậc trí thức biết nhìn trước trông sau trong tầm vóc một Hà thành thủ đô sau này với những điều bất cập về hành chính mà triều Nguyễn đã đề ra.

Tại cụm công trình đền chùa Ngọc Sơn, Nguyễn Văn Siêu cũng dành chữ nghĩa cho cây cầu Thê Húc với màu đỏ tượng trưng cho hưng thịnh, khởi sắc, nơi lưu giữ và trường tồn nguyên khí thanh sạch của buổi sớm mai.  Phía bên kia cầu có lầu Đắc Nguyệt - lầu đón trăng của người muốn được nặng lòng với trăng trong tâm sự một kẻ sĩ ưu thời mẫn thế, đầy chất thi nhân lãng mạn trước vẻ đẹp độc nhất vô nhị của miền mỹ thuỷ Thăng Long. Còn nữa, đó là Trấn Ba Đình. Dịch nôm cụm từ này là ngôi nhà chắn sóng. Đặt tên cho ngôi nhà là đặt tên cho một tư thế. Tư thế ấy là đôi câu đối:

Kiếm hữu dư linh quang nhược thuỷ
Văn tòng đại khối thọ như sơn

Dịch là:

Kiếm sót khí thiêng ngời tựa nước
Văn cùng trời đất thọ như non.

(Theo sách Hà Nội xưa và nay - Sở VHTT Hà Nội xuất bản năm 1994).

Một đôi câu đối thể hiện được cả văn lẫn võ trong thế đứng đầy kiêu hãnh của nó với truyền thống ông bà để lại cùng những vẻ vang mà cha anh và con cháu đã tạo nên!

Đôi câu đối này mang màu sắc nhập thế của một nhà văn hoá lớn Hà Nội thế kỷ XIX. Tuy viết câu Tả thanh thiên lên bút đá, muốn tâm nguyện của kẻ có chữ được thấu tới trời xanh, vượt qua mọi cản trở để rồi lại trở về với mặt đất cội nguồn mà góp trí, góp công, góp của cùng mọi người tạo nên quần thể một di tích danh thắng bậc nhất của Hà Nội ngay từ thế kỷ thứ XIX. Đây là một đặc sắc của tri thức Hà thành qua những công trình và chữ nghĩa cùng những tinh hoa khác để lại. Mọi người sẽ nối tiếp nhau bồi đắp theo thời gian để cho vùng địa linh mang tên hồ Hoàn Kiếm một truyền kỳ để đời. Trong mọi cống hiến của mọi người ấy có công sức không nhỏ của cụ Phương Đình Nguyễn Văn Siêu.

Mọi người cùng nhau tri ân công đức ấy và công đức khác của các bậc tiên tổ như ca dao Hà Nội đã truyền miệng cho nhiều thế hệ người Thăng Long biết và tạc dạ:

Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ
Xem cầu Thê Húc xem chùa Ngọc Sơn
Đài Nghiên, Tháp Bút chưa mòn
Hỡi ai gây dựng nên non nước này!

Nhật Văn
.
.
.