Trần Nhật Duật - Vị tướng trẻ tài cao

Chủ Nhật, 01/07/2007, 09:14
Trần Nhật Duật là một vị tướng trẻ chẳng những có tài mà còn có cái tâm cao thượng. Chính vì lẽ đó ông đã thu phục được quan quân nổi loạn đưa họ về phục vụ triều đình, làm cho một vùng rộng lớn của phía Tây của Tổ quốc trở lại yên bình.

Ông được phong vương rất sớm - khi mới ngoài 20 tuổi. Năm 27 tuổi, ông đã mang hàm Thượng tướng, được đặc trách công việc có liên quan đến các vùng dân tộc của triều đình...

Việc phong vương trẻ cùng với hàm Thượng tướng và triều đình giao nhiều trọng trách lớn đã làm không ít các quan trong triều có ý này, ý khác... Người thì nói ông là con vua nên được ân sủng, người thì nói ông còn quá trẻ được giao nhiều việc lớn dễ sinh kiêu. Nhưng các vị đại thần lại không nghĩ như vậy, nhiều người đặt niềm tin rất lớn ở nơi ông.

Ở ông tuổi đời tuy trẻ nhưng đã hội tụ được những tố chất của một vị vương và một vị tướng có tài, có tâm và có tầm. Ông là Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật.

Ngay từ khi còn nhỏ, ông đã thể hiện tư chất thông minh, đến tuổi học hành ông rất đam mê văn sách, làu thông kinh sử, nghiên cứu kỹ lưỡng binh thư, rất giỏi về ngôn ngữ, lại bỏ nhiều công sức để rèn giũa đạt độ tinh thông về võ thuật. Ông rất giỏi ngôn ngữ của người Hán và ngôn ngữ của người Chiêm.

Không những vậy, ông còn giỏi các thổ ngữ và tập tục của các dân tộc trong cộng đồng Đại Việt. Ở triều đình lúc bấy giờ rất ít người sử dụng ngôn ngữ của các nước lân bang và nếu có cũng chỉ sử dụng thành thạo tiếng Hán, còn nói được vài tiếng khác chỉ có Chiêu Minh Vương Trần Quang Khải hoặc Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc.

Khi có việc phải bang giao với sứ thần nhà Nguyên, triều đình thường cử ông tiếp xúc. Trong những lần tiếp xúc đó, ông đã khiến sứ thần Nguyên hết sức ngạc nhiên, thán phục trước hiểu biết sâu rộng của ông về tập tục văn hóa, đặc biệt về ngôn ngữ. Ông diễn đạt rõ ràng, rành mạch văn phong hợp cảnh, hợp người.

Sự thông thạo cùng với phong cách giao tiếp tự nhiên của ông khiến sứ thần nhà Nguyên không tin ông là người Việt mà bảo ông là người Hán ở Chân Đình sang làm quan bên Đại Việt (Chân Đình là địa danh ở gần Bắc Kinh, trong Đại việt sử ký toàn thư có ghi chép ý này).

Do nhờ uy tín và giao tiếp thành thạo tiếng Hán lại có suy nghĩ sâu, ông đã đề nghị triều đình cho ông dung nạp một số tướng của nhà Tống bại trận trước quân Nguyên đưa về phục vụ dưới trướng của mình.

Ông hiểu biết khá nhiều về thổ ngữ của các dân tộc Đại Việt. Không những vậy, ông còn đi sâu tìm hiểu rất kỹ các phong tục tập quán của từng dân tộc. Sự hiểu biết của ông đến nhà vua cũng có lúc đùa rằng Chiêu Văn không phải là người Việt. Có được tiếng khen ấy ông đã phải bỏ ra nhiều công sức học và hành.

Điều đáng quý nơi ông chính là tinh thần ham học và ý thức tự trọng rất cao. Ông không ỷ thế con vua để dựa dẫm và chơi bời hoan lạc, trái lại ông coi việc giúp dân, giúp nước là công việc hàng đầu. Ông tự nhủ muốn giúp được dân, được nước thì phải lo chuyện học hành. Ông đã tự đưa mình vào khuôn phép và rất nghiêm túc trong việc học hành. Có lẽ vì vậy nên khi nói đến sự học và sự hiểu biết của ông, các vị quan lại trong triều đều kính nể trí thông minh và tinh thần chăm học ở nơi ông.

Còn nói về cái tâm của vị tướng trẻ này, lịch sử Việt Nam còn ghi chép lại năm ông 27 tuổi với hàm Thượng tướng và cờ hiệu vua ban "Trấn thủ Đà Giang", tức là triều đình giao cho ông cầm quân đi dẹp Chúa đạo Đà Giang Trịnh Giác Mật - vị Chúa đạo tự nổi loạn chống lại triều đình.

Nhận chỉ lệnh triều đình, ông suy nghĩ rất nhiều về hiện tình đất nước, bên ngoài giặc Nguyên dòm ngó mà trong nước có sự không yên thì quốc gia dễ bề nguy khốn. Phải giữ cho trong ấm ngoài êm và giữ cho đất nước bình an là điều ông tâm niệm.

Ông tự hỏi tại sao thần dân trong cùng một nước, quan lính được hưởng bổng lộc của triều đình, vậy điều gì khiến họ nổi lên gây rối và tự lý giải phải chăng có sự xúi giục từ bên ngoài đem lại hay là quân lính của ông đã có hành vi xấc xược vi phạm tập tục của nhân dân, nhất là đối với nhân dân vùng dân tộc ít người làm động lòng tự ái của Chúa đạo Đà Giang.

Ông bình tĩnh suy xét căn nguyên và lần ra đầu mối của sự bất hòa đó là sự xúi bẩy từ bên ngoài và việc quân lính triều đình coi thường tập tục của dân, không kính trọng dân, làm nhiều điều thất tín với dân.

Khẳng định được căn nguyên sự việc, ông đã hạ mình xin lỗi nhân dân và dùng quân pháp nghiêm trị cấp dưới vì đã lợi dụng quyền uy để xâm phạm đến dân. Ông cũng nhận thấy sự dao động của Chúa đạo Đà Giang khi nổi lên chống lại triều đình. Tin ở khả năng đức độ của mình và sức mạnh của triều đình, ông hy vọng sẽ làm cho Chúa đạo Đà Giang hiểu ra và quy thuận triều đình.

Biết được tài trí và đức độ của ông, trong lòng Chúa đạo Đà Giang đã thuận tình quay lại với triều đình, nhưng vẫn còn bán tín bán nghi nên đã bày ra kế thử ông xem có thật lòng.

Trịnh Giác Mật mời ông đến trại nhưng lại ngầm bố trí binh sĩ theo dõi hành động của ông. Biết vậy, ông không sợ hiểm nguy cùng một vài binh sĩ chẳng mang theo vũ khí ung dung đến đại bản doanh của Chúa đạo Đà Giang. Thấy ông bình thản trước cả rừng gươm giáo, lại thể hiện rất thành thạo các tập tục của thổ dân, Trịnh Giác Mật phục lắm.

Khi ăn uống ông hiểu rất rõ tục "ty ẩm" (tức là trong lúc ăn uống người tham dự tiệc phải cùng một lúc dùng mũi uống rượu và dùng mồm nhai thịt). Ông thành thạo đến mức Chúa đạo Đà Giang và quân lính phải thốt lên Chiêu Văn đúng là người của mình, chắc chắn là bạn của mình. Ông đã thu phục được Chúa đạo Đà Giang mà không phải dùng đến sức mạnh.

Không gây ra cảnh nồi da xáo thịt, không để lại thù hận giữa các dân tộc sống trong cộng đồng Đại Việt. Ông là một vị tướng trẻ chẳng những có tài mà còn có cái tâm cao thượng. Chính vì lẽ đó ông đã thu phục được quan quân nổi loạn đưa họ về phục vụ triều đình, làm cho một vùng rộng lớn của phía Tây của Tổ quốc trở lại yên bình. Thế trận chống ngoại xâm của đất nước ngày càng vững mạnh...

Triều Trần có nhiều danh tướng, trong số các danh tướng đó có nhiều người còn rất trẻ, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật là một trong các vị tướng trẻ. Thế mới biết khi triều đình có chính sách trọng dụng người hiền tài, biết đánh giá đúng tài năng đức độ của các vị tướng trẻ, có lòng tin ở họ, mạnh dạn giao phó cho họ những trọng trách lớn lao thì chính họ không phụ lòng tin của đất nước. Trái lại, sự cống hiến hết mình của những vị tướng trẻ xưa đã làm rạng danh đất nước.

Bài học về sử dụng người hiền tài, trẻ tuổi của cha ông xưa kia khiến chúng ta ngày nay cần suy ngẫm

Phùng Khắc Đăng
.
.
.