Trách nhiệm của người biên tập

Thứ Năm, 06/07/2006, 08:21

Dư luận đang bàn tán xôn xao về sự giống nhau khá lạ lùng của hai tác phẩm "Cánh đồng bất tận" của nhà văn nữ Nguyễn Ngọc Tư và "Dòng sông tật nguyền" của Phạm Thanh Khương. Cả hai đều khẳng định chưa đọc tác phẩm của nhau nên không có chuyện đạo văn. Vậy thì lỗi ở ai?

Truyện vừa "Cánh đồng bất tận" (CĐBT) của Nguyễn Ngọc Tư được in 3 kỳ trên Báo Văn nghệ năm 2005, sau đó được Báo Tuổi trẻ in lại nhiều kỳ. Một hãng phim đã mua bản quyền để làm điện ảnh. Nghe đâu sân khấu cũng muốn dựng kịch. Tập truyện ngắn cùng tên của Tư cũng in đến 3 vạn bản. Dư luận bạn đọc trong và ngoài nước khen có chê có nhưng tựu trung số người yêu mến, đánh giá tích cực vẫn nhiều hơn.

Cũng bởi CĐBT mà các cơ quan có trách nhiệm ở Cà Mau buộc tác giả phải kiểm điểm. Một số quan chức địa phương có bài phê phán khá nặng nề lại làm dấy lên một làn sóng bảo vệ tác giả và tác phẩm. Trong tình hình văn học trầm lắng hiện nay, tác phẩm tạo được sự quan tâm của dư luận, dẫu đánh giá không thống nhất, dẫu có người coi đó là kết quả của một chương trình tiếp thị, thì vẫn phải thừa nhận giá trị đích thực của CĐBT.

Vì thế, khi truyện ngắn "Dòng sông tật nguyền" (DSTN) của Phạm Thanh Khương in trên Tạp chí VNQĐ số ra tháng 4/2006 đã được bạn đọc chú ý vì cốt truyện, nhân vật, chi tiết "hơi bị" giống CĐBT công bố gần một năm trước. Nhiều người tìm đọc lại cả hai truyện và nhận ra sự giống nhau bất thường đó.

Vậy ở đây có phải là trường hợp đạo văn không? Và ai là người làm việc đó? Chuyện có thể rất đơn giản mà cũng có thể rất phức tạp.

CĐBT của Nguyễn Ngọc Tư được công bố trước. Nhà văn lại ở tận vùng sâu vùng xa, ít có điều kiện giao lưu với bạn văn cả nước, nên rất khó nói CĐBT bắt chước DSTN.

Công bố sau, DSTN của Phạm Thanh Khương rõ ràng ở thế yếu.

Nhiều nhà phê bình và bạn đọc đều thấy, CĐBT vẫn nhất quán với văn phong, giọng điệu đã định hình của Nguyễn Ngọc Tư. Không gian, cảnh vật, con người, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ nhân vật đậm đặc chất Nam Bộ. Mừng hơn, là với tác phẩm này, Nguyễn Ngọc Tư vẫn là chính mình nhưng đã đi xa, vươn cao hơn những gì đã viết trước đó.

Vẫn một không gian tù túng quen thuộc, nhưng cấu trúc, cốt truyện, số phận, tính cách nhân vật có sức gợi, sức chứa vượt rất xa chất liệu hiện thực trực tiếp mà tác giả mượn để kiến thiết tác phẩm. CĐBT là thế giới bất tận của tâm hồn, tình cảm, tính cách, phận người nhỏ nhoi trong nhân gian bao la. Tác giả nhìn vào cõi người lầm than và nhận ra sự què quặt, bệnh hoạn của tình cảm, tinh thần, thù hận của con người tạo nên những bất hạnh truyền kiếp chỉ có thể được hóa giải bằng sự khoan dung, nhân ái.

Đặt cạnh CĐBT của Tư, truyện ngắn DSTN đã đổi từ "cánh đồng" sang "dòng sông" với hệ thống các nhân vật, tình cảm, cách xử thế khá tương đồng (hình ảnh ông bố bị phản bội, trả thù mọi người đàn bà đến sau, một người phụ nữ thương yêu ông hết lòng bị hắt hủi, cô con gái bị ghét bỏ, rồi bị hãm hiếp…) nhưng cảm thụ của bạn đọc là thấy sự bó hẹp về ngữ nghĩa của một truyện kể hơi… thật thà.

Trả lời trước dư luận, tác giả DSTN đã có những cơ sở ở đời sống, trải nghiệm để tự bảo vệ. Rồi bạn đọc và thời gian sẽ làm công việc thanh lọc tự nhiên như với mọi tác phẩm văn học khác. Cái gì hay sẽ ở lại.

Nhưng, từ sự kiện văn học bất thường này, những người viết, mà đặc biệt là các bạn viết trẻ có thể rút ra cho mình những suy nghĩ cần thiết.

Tại Hội nghị "Những người viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 7" tại Hội An vừa qua, có một vấn đề nổi lên được chú ý trong các diễn đàn, thảo luận. Đó là việc coi sáng tác văn học như một hoạt động xã hội nghiêm túc và ý thức tôn trọng sáng tạo của đồng nghiệp. Không ít người viết trẻ không giấu giếm một sự thật, là không có thói quen và nhu cầu đọc tác phẩm của người viết trong nước.

Nghe có vẻ rất bản lĩnh và tạm thời giải quyết được "khâu oai". Nhưng nghĩ cho đến nơi đến chốn, thì đó là biểu hiện rõ nhất của tính nghiệp dư trong sáng tác. Muốn đi đường dài, muốn trở thành một nhà văn - nhà văn hóa thì không thể coi sáng tác bằng bản năng, bằng vốn tự có. Tích lũy kiến thức chính là cách tạo tiềm lực cho sáng tạo lâu dài. Để tránh phải sai lầm "phát hiện ra châu Mỹ giữa thế kỷ XXI", hô ầm lên "ơ-rê-ka" trước những gì thiên hạ đã biết, đã làm, thì không thể không cập nhật thông tin.

Trở lại câu chuyện về sự giống nhau giữa hai tác phẩm vừa nói, tác giả DSTN có trả lời mình chưa đọc tác phẩm CĐBT của Nguyễn Ngọc Tư, cho thấy thiệt thòi của sự ngại đọc đã quá rõ. Nhưng điều cần nói hơn là trách nhiệm của các "bà đỡ", những người biên tập trực tiếp để giới thiệu tác phẩm có nhiều phần giống một tác phẩm đã công bố trước mà không có bất cứ lời giải thích nào cũng cần rút kinh nghiệm.

Tôi đã nghĩ, chỉ cần biên tập viên nhấc máy gọi cho tác giả DSTN hỏi xem anh ta đã đọc CĐBT chưa, và nếu chưa thì hãy đọc rồi đưa ra quyết định có công bố DSTN không vẫn chưa muộn… thì sự thể có khi đã khác.

Một số nhà văn có thể ngại đọc của nhau. Nhưng tất cả đều cần phải hiểu một điều đơn giản rằng, trong thời đại toàn cầu hóa thông tin hiện nay, sự hiểu biết của độc giả nói chung là… rất đáng nể. Giải thưởng phần mềm "Trí tuệ Việt Nam" năm 2005, rồi gần đây, giải thưởng "Võ lâm truyền kỳ" đang bị cộng đồng cư dân trên mạng "bóc mẽ" là "cầm nhầm" một phần trí tuệ của người khác.

Vụ kiện bản quyền tác phẩm "Mật mã Da Vinci" của Dan Brown, hay tiểu thuyết "Hoa rơi trong mộng" của nhà văn trẻ Trung Quốc Quách Kính Minh sao chép nhiều đoạn, cốt truyện và tình tiết từ cuốn "Vòng trong vòng ngoài" của tác giả Trang Vũ được đề cập trên báo chí thời gian qua là những ví dụ khiến tôi nhớ tới một câu ca dao cổ.

Đọc rằng "Anh ơi ngồi đó chớ ra/ Con mắt thiên hạ nhìn ta hơn đèn"

Bình Nguyên Trang
.
.
.