Tản mạn về những cách cho của nhà văn

Chủ Nhật, 03/02/2013, 12:52
Tôi vẫn ngồi lau lại cái bi đông nước, chiếc hăng gô, hộp thuốc cá nhân, con dao găm và gấp lại chiếc võng dù. Nó trở thành những hiện vật trong bảo tàng cá nhân gia đình, dầu biết thế hệ mai sau nhìn cuộc chiến đã cách biệt. Nhưng kỷ niệm thì mãi mãi khó xóa đi, những nhà văn người lính.

Một chiều cuối đông xưa, thật muộn nhà thơ Duy Khán (Tạp chí Văn nghệ Quân đội) đi uống rượu suông về, ông đang liêu xiêu chân nam đá chân chiêu thì gặp nhà thơ Thu Bồn ngồi trên chiếc xe máy 82 nom rất bụi, thấy dừng xe đợi Duy Khán. Không đợi Duy Khán nói gì, Thu Bồn đã tung ra một xấp tiền, tiền hào nhưng có giá trị như tiền đồng bây giờ, rất nhiều tiền lẻ: “Duy Khán ơi cầm tiền đi uống rượu này”. Tiền bay lòa xòa trên sân gạch nhà số 4 Lý Nam Đế, Hà Nội. Duy Khán cúi xuống hơi cuống quýt một tý vì chưa kịp cảm ơn và hình như phải nói một câu đại loại như vừa lĩnh nhuận bút hả, hay có khoản lộc ất ơ nào đấy.

Vừa nhặt tiền, Duy Khán vừa đi xiêu vẹo lên phòng nhà văn Triệu Bôn, nơi cuối cầu thang, phía hành lang rẽ về bên phải. Không phải không nhớ phòng làm việc của nhau mà Duy Khán nghệ sỹ tới nỗi cứ phân bua với Triệu Bôn: “Tớ chưa bao giờ nhầm phòng vì rượu. Tớ cam đoan Thu Bồn vừa cho tớ tiền đây này. Uống mệt nghỉ, mai lại ra bà Mùi gốc sấu Hòe Nhai, lần này nhắm rượu ta phải nhắm với vó bò nhá, nhưng răng tớ có vấn đề Bôn ạ, nhai nó mà như không nhai, có lần tớ nghẹn suýt đi cấp cứu Viện 354 đấy...”.

Rồi Duy Khán ôm xếp tiền Thu Bồn cho ngồi khóc. “Hôm qua tớ không say rượu Bôn ạ, tớ đi chiếc xe Môbilét mất phanh, vòng mất đến chục vòng vườn hoa Hàng Đậu, tớ qua cả chỗ vườn hoa tiễn cậu đi B năm 76 (1976), vẫn chưa hết xăng; tớ quay về phố Lý Nam Đế, liều mạng cho quặt tay lái đâm lên gốc xà cừ. Cả tớ và xe ngã chỏng gọng. Tớ đạp lên bánh xe Môbilét hẳn hoi rồi phê bình nó một trận tơi bời: lại còn nằm đây quay bánh tít mù gì nữa, dậy đi rồi về nhà, mày nặng bỏ mẹ tao dắt dìu sao đây”.

Nói đứt đoạn, rồi Duy Khán nằm ngáy kho kho. Nhờ chi tiết này, Triệu Bôn viết Duy Khán 50 năm tuổi thơ, Duy Khán luôn luôn là tuổi thơ. Triệu Bôn rất yêu quý Duy Khán chính là sự hồn nhiên của ông. Ông có cách kể chuyện để người nghe bật cười, cười xong lại thấy nước mắt chan chứa trên mặt.

Lần vào thăm nhà văn Nguyễn Minh Châu ở Viện Quân y 108 về, nhà văn Triệu Bôn buồn lắm.

Anh về nói với vợ (nhà thơ Hoàng Việt Hằng) thế này: “Vào cuối tuần hai đứa mình vào thăm anh Châu, em nhớ mua bao thuốc lá ngon ngon, nhé. Nhưng nhớ nếu có chị Doanh (vợ anh Châu) thì đừng đưa thuốc lá cho anh Châu. Chị ấy thương anh không cho hút. Đấy là cách vợ thương chồng giữ cho chồng, nhưng mà anh Châu biết bệnh của mình...”.

Nhà văn Nguyễn Minh Châu và nhà văn Triệu Bôn.

Anh Triệu Bôn còn bảo, để cho anh ấy hút vài hơi cho đỡ nhớ thuốc lá. Đời nghèo anh Châu toàn hút thuốc lào, y như Triệu Bôn chỉ đủ tiền hút thuốc lá quấn thôi, nếu vào Viện 108, chị Doanh không có ở đó, em ra hành lang, gặp chị, thì chào rõ to để anh dập thuốc lá.

Đận đó, anh  Nguyễn Minh Châu trò chuyện rất lâu với Triệu Bôn, và khi về còn bảo Triệu Bôn nhớ giấu bao thuốc xuống dưới đệm, đừng để bà Doanh thấy là được. “Có vấn đề gì đâu, đằng nào tớ cũng đi trước cậu, nhớ lời tớ dặn nhé.”

Tôi thấy Triệu Bôn mặt chùng xuống, đi rất chậm trên con đường mòn trong Bệnh viện Quân y 108, cách đó cũng không lâu chúng tôi từng phải chia tay nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, vẫn con đường mòn đó. Triệu Bôn tỏ ra yếu đuối, và tiếc nuối lắm. Bao năm qua, anh và anh Châu từng cắm cúi viết tiểu thuyết ở nhà số 4, lần ra tiểu thuyết  “Dấu chân người lính”, Triệu Bôn đã quá thành thật chê cách tả các trận đánh trong tiểu thyết này, diễn tập và đánh đấm như thế thì quá xoàng, anh Châu giận Triệu Bôn một năm trời.

Rồi một lần ở nhà tắm phía dưới nhà số 4, Triệu Bôn làm lành trước thì Nguyễn Minh Châu bảo: “Cậu chê kiểu đó đau bỏ mẹ, tớ chịu đau mới khỏi, nhưng thôi, ta cùng rút kinh nghiệm”. Tôi hỏi anh Bôn: “Anh Châu dặn anh có điều gì lạ không?”, “Lão Khúng” này, (cách gọi thân mật của Triệu Bôn với nhân vật của Nguyễn Minh Châu) sắp đi mới  dặn dò rõ là thiết thân.

Anh Châu dặn thế nào, tôi lại gặng hỏi, lặng lẽ mãi anh Bôn mới nói: “Cậu đừng có làm những động tác thừa, hãy dành thời gian để viết những thứ mình thích, đừng lãng phí thời gian. Nhớ nhé!”. “Anh đã ôm lấy anh Châu, anh khóc, em biết không, anh đã bỏ phí quá nhiều thời gian viết báo nuôi con nuôi em, giờ thì phải gạt ra thôi”.

Rồi Triệu Bôn dặn vợ thế này: “Em dành chi tiêu, lo liệu cho anh, để anh viết nhé. Anh Châu nói, là rút ruột ra nói với anh. Nhà văn mà không viết được những thứ mình ấp ủ thì coi như tử trận rồi...”.

Lần đó tôi không hiểu giá trị thời gian nước rút của người lính, nó như đường cua chạy nước rút, vì các anh còn thương tật đầy mình. Sau này cuốn tiểu thuyết  “Tôi” của Triệu Bôn viết được hai chương, anh bỏ dở, anh bị bệnh alzheimer, mãi mãi khép lại. Sau tiểu thuyết “Cơn co giật của đất” và tập truyện ngắn “Gió lay cửa phật”, tác phẩm đã ra đời sau những lời dặn cuối của Nguyễn Minh Châu gặp gỡ Triệu Bôn “cậu đừng có làm những động tác thừa…”.

Anh Châu cho Triệu Bôn một lời khuyên chậm, nhưng vẫn còn kịp để nhà văn Triệu Bôn viết thêm hai tập truyện ngắn và hai tiểu thuyết về chiến tranh. Nhưng một cuốn tiểu thuyết về chiến tranh mãi mãi dở dang sương khói, thế hệ anh, nếu không qua trận mạc làm sao viết được như vậy?

Tôi vẫn ngồi lau lại cái bi đông nước, chiếc hăng gô, hộp thuốc cá nhân, con dao găm và gấp lại chiếc võng dù. Nó trở thành những hiện vật trong bảo tàng cá nhân gia đình, dầu biết thế hệ mai sau nhìn cuộc chiến đã cách biệt. Nhưng kỷ niệm thì mãi mãi khó xóa đi, những nhà văn người lính

H.V.H.
.
.
.