Nhân ngày nhà thơ Phạm Tiến Duật nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh:

Sự gắn bó máu thịt giữa nhà văn với đất nước

Chủ Nhật, 20/05/2012, 16:45
Nhắc đến nhà thơ Phạm Tiến Duật (1941-2007) là nhắc đến một tài năng văn chương, là nhắc đến một nhà thơ - chiến sĩ đường Trường Sơn thời chống Mỹ cứu nước, là nhắc tới một con người luôn gắn bó mật thiết số phận của mình với số phận những con đường đầy bom đạn, hi sinh, với số phận dân tộc.

Ngày 19/5, trong số các nhà văn Việt Nam vinh dự đón nhận giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, nhà thơ Phạm Tiến Duật là người đi vào cõi vĩnh hằng như bao liệt sỹ đường Trường Sơn huyền thoại.

1. Phạm Tiến Duật là một nhà thơ chiến sĩ đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước. Ông gắn bó tuổi thanh xuân của mình với đường Trường Sơn huyền thoại đến mức như nhà thơ Đỗ Trung Lai đã nói: “Có thể nói, đường Trường Sơn chống Mỹ, là ý chí Hồ Chí Minh, Chủ  nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam và… Thơ Phạm Tiến Duật”. Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã từng viết: “Cảm ơn Phạm Tiến Duật đã để lại cho chúng ta niềm kiêu hãnh sống, niềm kiêu hãnh sáng tạo và dâng hiến, ngọn lửa tài năng và trí tuệ của anh đã thắp sáng trên văn đàn, đã cầm trên tay trong cuộc chạy đường trường suốt những năm tháng qua, sẽ còn mãi. Những gì anh để lại cho chúng ta sẽ được Đảng và nhân dân giữ gìn mãi mãi, sẽ được chúng tôi, những người đồng đội, đồng chí của anh, giữ gìn mãi mãi…”.

Chính sự gìn giữ mãi mãi ấy mà sau 5 năm khi nhà thơ của chúng ta đi vào cõi vĩnh hằng vì căn bệnh ung thư quái ác hành hạ, ông vừa được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật; đây là một minh chứng về những đóng góp xuất sắc của Phạm Tiến Duật cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Cuộc đời của nhà thơ Phạm Tiến Duật là một biểu hiện sinh động lòng tự nguyện gắn bó mật thiết giữa ý thức công dân của các văn nghệ sĩ cách mạng với vận mệnh dân tộc.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật (thứ 2 bên phải) tại Hội nghị Mừng công của Bộ đội Trường Sơn mùa khô 1970-1971.

2. Những ai từng đọc bài thơ “Tiếng bom ở Seng Phan” của nhà thơ Phạm Tiến Duật viết năm 1968 sẽ cảm thấy vô cùng lý thú về một phát hiện như một triết lý sống của người lính trong cuộc chiến tranh vệ quốc:

…Tôi đứng giữa Seng Phan.
Cao hơn tiếng bom là khe núi tiếng đàn.
Tiếng mìn công binh đánh đá.
Tiếng điếu cày rít lên thong thả.
Tiếng oai nghiêm xe rú máy trên đường…
Thế đấy giữa chiến trường.
Nghe tiếng bom rất nhỏ.

“Thế đấy giữa chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ”, đó là phát hiện của những người lính ngoài mặt trận và chỉ có những người lính trằn mình trong bom đạn như Phạm Tiến Duật mới có thể khái quát lên thành một câu thơ mang triết lý sống của những đồng đội ông. Sau này, trong thời bình, đã có những ý kiến lạc điệu cho rằng, nền thơ chống Mỹ mà tiêu biểu là Phạm Tiến Duật ấy là thơ tuyên truyền, ít có giá trị nghệ thuật.

Có lẽ vì thế chăng mà năm 1994, có lần nhà thơ Phạm Tiến Duật đã tâm sự về bài thơ “Tiếng bom ở Seng Phan”: “Sự thật vật lý này cũng là sự thật của tâm lý, tâm linh. Tất nhiên trong bài thơ này với các bài thơ khác của tôi (và của các nhà thơ khác nữa) có mục đích của sự tuyên truyền. Vâng, nghệ thuật cũng là mục đích và tuyên truyền cũng là mục đích. Không cái nào làm giảm cái nào mà ngược lại. Tuyên truyền cho lòng yêu nước là một chuyện lớn. Cái đang phàn nàn là tôi làm chưa giỏi mà thôi”.

“Tuyên truyền cho lòng yêu nước là một chuyện lớn”, có thể coi đó không chỉ là tuyên ngôn nghệ thuật của Phạm Tiến Duật mà còn là ý thức công dân thường trực trong máu thịt của đội ngũ văn nghệ sĩ nước ta trong sự nhập cuộc bảo vệ Tổ quốc.

Quả thật, đúng như Phạm Tiến Duật nói: “Tuyên truyền cho lòng yêu nước là một chuyện lớn”. Tôi từng nhiều lần được trò chuyện với Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn; và lần nào ông cũng nhắc đến nhà thơ Phạm Tiến Duật.  Những năm 1960, 1970 của thế kỷ trước ở Trường Sơn, có lẽ khoảng cách giữa người lính Phạm Tiến Duật với một vị Tư lệnh chắc là... xa lắm. Nhưng vị Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã nói với tôi không dưới một lần rằng: "Bao nhiêu tọa độ của địch, suốt ngày máy bay Mỹ ném bom, chà xát, ai đi qua thì cố đi thật nhanh. Nhưng nhà thơ Phạm Tiến Duật thì ở lại, ở lâu để viết và chiến đấu. Thơ anh lan tỏa rộng và nhanh, động viên sỹ khí của bộ đội nói chung và bộ đội Trường Sơn mãnh liệt hơn. Tôi yêu anh ấy và cũng cảm ơn anh ấy...".

Thế hệ trên dưới tuổi năm mươi của chúng tôi từng được nhiều lần làm văn bình thơ Phạm Tiến Duật và có lẽ chẳng ai là không biết bài thơ “Gửi em cô thanh niên xung phong”  với câu thơ trở thành truyền khẩu “Em ở Thạch Kim sao lại lừa nói là Thạch Nhọn. Đêm ranh mãnh ngăn cái nhìn đưa đón…”. Rồi lại với câu thơ hỏi nghe mà thấy thương thương đến nao lòng “ Em ơi em, hãy nghe anh hỏi. Xong đoạn đường này các em đi đâu?”.  Ai cũng biết, “em gái Thạch Kim” ấy chỉ là một nguyên mẫu. Thế nhưng thật kỳ lạ, “nguyên mẫu” năm 1968 ấy, bây giờ là một cựu TNXP Lê Thị Nhị, một thương binh, năm nay đã 62 tuổi, ở một mình tại thôn Xuân Phượng, xã Thạch Kim, huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh.

Nghe tin nhà thơ Phạm Tiến Duật bị trọng bệnh, chị đã nhờ người cháu trai đưa ra bệnh viện 108 thăm anh Duật. Trong cơn mê sảng ở giường bệnh, nhà thơ Phạm Tiến Duật lờ mờ nắm bàn tay “cô gái Thạch Kim” hẳn sẽ cảm thấy sức nóng Trường Sơn một thưở. Rồi chị trở về Hà Tĩnh trên chuyến tàu chật chội giữa đêm…

Rồi nhiều người thêm một lần ngạc nhiên nữa, khi đưa tang nhà thơ Phạm Tiến Duật, cựu TNXP Lê Thị Nhị vội vàng ra Hà Nội để được viếng anh Duật. Chị một lần nữa lại nhờ cháu trai chở  xuống nghĩa trang Văn Điển, trước mộ nhà thơ, chị khóc nức nở, khuôn mặt nhoè nước mắt. Tôi đứng cạnh chị và tự hỏi, có ở đâu trên thế giới này, có một lễ tang nào như thế, một nguyên mẫu của một bài thơ 30 năm trước đã lặn lội từ chiến trường xưa ra đưa tiễn tác giả... Và tôi bỗng nghĩ, có thể chị là nguyên mẫu trong bài thơ "Gửi em cô TNXP", cũng có thể là một cựu TNXP nào đó, nhưng sự có mặt của chị Lê Thị Nhị là đã thay mặt cho hàng vạn các cựu TNXP Trường Sơn đến vĩnh biệt nhà thơ thân yêu của mình...

Nhà thơ Phạm Tiến Duật còn có một người bạn tâm giao khác tên là Evans Ham, một người bạn Australia thân với anh Duật trên 20 năm nay. Khi nghe nhà thơ Phạm Tiến Duật trọng bệnh, Evans Ham liền từ Mỹ bay sang, đến nơi thì không kịp nữa, vậy là ước vọng làm phim về Lửa đèn của ông không thực hiện được. Và Evans Ham đã ở lại Việt Nam một tuần để hôm ấy tiễn đưa nhà thơ Phạm Tiến Duật ra tận nghĩa trang Văn Điển. Tôi nghe giọng ông nói trước mộ nhà thơ: "Phạm Tiến Duật thuộc về những nhà thơ của chiến tranh, viết về chiến tranh từ ngay trong lòng nó. Với ngôn ngữ bậc thầy, ông đã truyền cảm hứng từ trái tim mình đến những người yêu nước, khích lệ họ trong cuộc chiến tranh vì mục đích lớn lao giải phóng dân tộc...".

Đây thực sự là những đánh giá thật chân thành của một người bạn nước ngoài, cho ta thêm hiểu vì sao nhà thơ Phạm Tiến Duật được nhiều người yêu mến và kính trọng đến như vậy.  Bỗng  nghĩ, khi một nhà thơ gắn số phận mình, sống chết cùng vận mệnh đất nước và dân tộc, chẳng những họ sẽ được đông đảo người trong nước yêu thích,  mà chắc chắn còn được cả bạn đọc ở nước ngoài yêu thơ kính trọng như trường hợp nhà thơ Phạm Tiến Duật, hẳn con chữ và nhân cách của họ sẽ sống dài hơn cả cuộc đời…

3. Bài thơ nổi tiếng “Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây” của Phạm Tiến Duật đã được phổ nhạc, có lẽ là bài hát được nhiều lứa tuổi hát nhất. Người ta hát trong các hội nghị, lễ hội mừng ngày chiến thắng, hát trong sinh hoạt tập thể, cả trong quán Karaoke… Bài hát ấy, có một câu thơ quen thuộc “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”, dường như ở đâu đó, có ai đó cho là “khô cứng”, cho là “tuyên truyền” không hợp thời. Nhưng những ai có mặt trên đường Hồ Chí Minh cái thời “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, chứng kiến những đoàn quân trùng trùng ra trận mới thấy hết khí thế anh hùng của một dân tộc, của một thời đại. Nói như nhà thơ Tố Hữu: “Trường Sơn đông nắng tây mưa. Ai chưa đến đó như chưa rõ mình” (Nước non ngàn dặm).

Năm 1994 nhà thơ Phạm Tiến Duật có lần đã phản ứng: “Về bài thơ này, có lần một nhà thơ cùng lứa với tôi, lại là người bình văn rất chăm chỉ có chê câu thơ “đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Xem ý tứ anh ta nghĩ ngược lại. Với tôi, đấy là câu thơ tả thực. Ai đã từng ra trận trong những năm tháng ấy hẳn rõ. Dù đổi mới đến đâu, cũng không nên nói ngược”.

Nhà thơ Nguyễn Đình Chiến có lần tâm sự rằng: “Chiến tranh đã lùi vào quá khứ. Có những người không hiểu thơ ông, cho đó là thứ chủ nghĩa lạc quan tưng tửng. Có người còn giễu cợt câu thơ “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” là hời hợt, là không đếm xỉa đến nỗi đau, đến sự mất mát to lớn của chiến tranh(!). Không! Ông từng là nạn nhân của sốt rét, của sức ép bom và tôi đồ rằng không chừng căn bệnh ung thư quái ác mà ông đang gánh chịu có cả chất độc đi-ô-xin đã mai phục trong lá phổi của ông từ những năm bom đạn. Là người lính, ông từng chứng kiến những chiến sĩ B3 cắt hết ống tay áo lấy vải may quần áo cho các em bé ở Tây Nguyên; những người lính thay nhau chết vì sốt rét ác tính… làm sao ông lại không hiểu nỗi đau. Chỉ có điều ông muốn dìm nó xuống, dành tâm huyết và ý chí cho cuộc chiến…

Năm 1982, tôi được Học viện Chính trị - Quân sự và Thành uỷ Hà Nội cử đi nói chuyện nhân kỷ niệm 10 năm chiến thắng B52. Ông cho tôi bao nhiêu tài liệu quý giá về 12 ngày đêm oanh liệt ấy. Tôi còn nhớ hôm đó, sốt rét cơn lại hành hạ ông. Ngồi nói chuyện với tôi, hai tay ông quặp chặt lấy mang tai, ông kể sau trận bom B52 huỷ diệt Khâm Thiên, có một em bé đi đong gạo sổ. Em khóc nói với cô nhân viên mậu dịch: Gia đình cháu bị bom Mỹ giết hại hết rồi… cô cho cháu đong một suất gạo nhưng đừng gạch tên người nhà của cháu trong sổ này, cô ơi!... Kể đến đây ông nấc lên. Gương mặt ông co dúm lại, thẫn thờ…”.

Con người nhà thơ Phạm Tiến Duật là thế. Ông đã sống, chiến đấu và làm thơ vì nghĩa cử cao đẹp với tâm thế như câu thơ ông từng viết “Cây cúc đắng quên lòng mình đang đắng. Trổ hoa vàng dọc suối để ong bay”. Và suốt đời ông đã trung thành với tuyên ngôn nghệ thuật ấy. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật truy tặng cho ông là vinh danh một nhà thơ chiến sĩ, cũng là vinh danh một thế hệ cầm súng, chiến đấu, hi sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì vận mệnh dân tộc. Nếu có đời sống tâm linh, tôi nghĩ, hẳn giờ này, nhà thơ Phạm Tiến Duật của chúng ta đang đi liêu xiêu xa lắc đâu đó dọc những cánh rừng để đọc to những vần thơ mới cho những đồng đội liệt sỹ đang tụ về trong bạt ngàn nghĩa trang Trường Sơn…

Hồng Thái
.
.
.