Rạng danh đạo Thầy
Tôi chỉ là một trong hàng vạn cựu sinh viên Khoa Văn Trường Tổng hợp (một cách gọi quen thuộc về Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội), dẫu giờ đây trường không còn tên xưa. Nhưng có sao đâu.
Những sinh viên lứa chúng tôi thuộc U40, U50, U60 và U… tóc đã bạc, nhưng không thể nào quên những ký ức xanh xa xôi tươi rói ấy vẫn mải miết chảy trong những câu thơ mềm mại, những lời văn đẹp như mùa thu, những bài hát Nga dịch qua lời Việt buồn dịu mênh mang vang đâu đây trong khoảng trời Mễ Trì huyện ngoại thành Từ Liêm.
Ở đó, cả những thầy cô được quen gọi là những nhân sĩ yêu nước, cả những người thầy vừa ra trường hơn kém lứa chúng tôi vài ba tuổi, thế nhưng trí tuệ mẫn tiệp và tâm hồn sáng trong của họ đã gieo vào tâm khảm chúng tôi bao kỷ niệm đẹp và ước mơ xa.
Tôi thuộc thế hệ sau, vô cùng đáng tiếc là không được nghe các giờ giảng của các giáo sư văn học lừng danh từng đặt nền móng cho sự ra đời của Khoa Văn như các Giáo sư Đặng Thai Mai, GS Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy, Hoài Thanh, Nguyễn Mạnh Tường…
Thế nhưng, những năm 70, 80 của thế kỷ XX, chúng tôi quên sao được mái tóc bạc như cước và giọng ấm sang sảng yêu đến tận cùng lý tưởng của Giáo sư Chủ nhiệm khoa Hoàng Xuân Nhị, các Giáo sư Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Như Mai, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Khoả, Nguyễn Lai, Bùi Duy Tân, Nguyễn Văn Tu, Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ, Nguyễn Lộc, Nguyễn Kim Đính, Đỗ Hồng Chung, Nguyễn Trường Lịch, Lê Đức Niệm, Nguyễn Lai, Lê Quang Thiêm, Đinh Văn Đức, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân...
Có thể việc kể tên các giáo sư chưa đúng với thứ tự thông thường, nhưng có thể nói, những năm đói kém ấy, cơm nhà bếp ăn bữa no, bữa đói, vậy mà mỗi lần các thầy cô bước lên bục giảng, thuyết giảng một câu về văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa, về lý tưởng của Đảng, về ngôn ngữ dân tộc, tôi cảm giác giống như những giáo sĩ của văn chương nói với lớp con chiên thơ ngây chúng tôi về một chân trời mới.
Giáo trình từ bộ óc siêu việt, ngôn ngữ từ trái tim nóng yêu dân tộc, không cần phấn bảng, các thầy cô nói những điều chuẩn mực khai sáng cho thế hệ hậu sinh. Tới nay có thầy, cô đã mất, nhưng với tôi họ còn sống mãi, bởi đơn giản là cuốn giáo trình thuộc bản quyền ngày nào của họ vẫn được chúng tôi lưu giữ và liên tục sáng tạo. Những mẩu chuyện, những chuyện kể về các thầy cô đến nay vẫn đẹp như cổ tích, tất cả đều đượm tính nhân văn, pha mầu huyền thoại.
Có lẽ nhiều người sẽ đồng tình với tôi khi khẳng định rằng, Khoa Văn là một khoa đa nhân cách, vì thế mà cuộc đời của mỗi thầy cô trên bục giảng và trong cuộc sống là một bài học lớn về đạo làm thầy, đạo làm người. Đến bây giờ nhiều lớp sinh viên còn nhắc kỷ niệm mỗi lần đến nhà cố Giáo sư Phan Cự Đệ làm luận văn tốt nghiệp, việc đầu tiên của ông là đưa người sinh viên đó đi ăn một bát phở hoặc ăn một bát cơm rang trước khi bàn về câu chữ.
Với Giáo sư Hà Minh Đức, ông không câu nệ cao thấp về chức tước, tôi nhớ lần Giáo sư mới chuyển nhà tới phố Yên Lạc, nghe mách có một cựu sinh viên Khoa Văn ở gần đây, mồng một Tết, ông chủ động đến chúc Tết nhà người học trò mà chưa chắc đã nhớ mặt ấy, làm vợ chồng họ vừa ngượng vừa vô cùng kính trọng thầy…
Chúng tôi ra trường đã mấy chục năm, xét về tuổi tác thuộc lứa "xêm xêm" với các thầy cô giáo được coi là thế hệ thứ 3 của Khoa Ngữ Văn - những người trưởng thành trong những năm tháng chống Mỹ, cứu nước. Họ đã trải qua những ngày tháng gian khổ thời kỳ Trường Tổng hợp sơ tán ở Đại Từ (Thái Nguyên); Hiệp Hoà, Yên Phong (Bắc Giang). Có thể nói, giống như một cuộc chạy tiếp sức, họ đang kế tục con đường đi của lớp giáo sư tiền bối và đang đảm nhiệm những công việc trọng yếu của Khoa Văn học, Khoa Ngôn ngữ (tách ra từ khoa Ngữ Văn) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội hôm nay.
Đó là các thầy cô Phạm Quang Long, Trần Trí Dõi, Vũ Đức Nghiệu, Nguyễn Bá Thành, Bùi Việt Thắng, Trần Nho Thìn, Phan Quý Bích, Hà Văn Đức, Trần Hinh, Lý Hoài Thu, Nguyễn Văn Nam, Trần Ngọc Vương, Trần Khánh Thành, Nguyễn Văn Khoái, Nguyễn Hùng Vĩ, Đào Duy Hiệp, Phạm Gia Lâm, Đoàn Đức Phương, Võ Đình Hường…
Hơn kém sinh viên dăm ba tuổi, nhưng cách ứng xử của họ luôn làm chúng tôi nể phục. Bởi vì các thầy cô luôn coi chúng tôi là bạn, sẵn sàng cho điểm 10 nếu sinh viên nào làm bài khác quan điểm học thuật của thầy. Là bạn đấy, họ cũng vui vẻ nếu có chén rượu, cốc bia, nhưng ngay cả khi ngồi quán vỉa hè với cựu sinh viên, họ vẫn giữ cốt cách nhà giáo chuẩn mực trong từng phát ngôn.
Đã mấy chục năm ra trường, nhiều thầy cô vẫn dõi theo học trò, để sẻ chia với những thành đạt, những buồn vui trong cuộc sống của sinh viên. Tôi nhớ có lần tại một cuộc hội thảo về văn học do Hội Nhà văn Việt
Cũng với tình cảm như thế, Giáo sư Đinh Văn Đức đã từng dùng xe đạp, xe máy chở nhiều sinh viên tốt nghiệp đi các Viện, các cơ quan, lấy uy tín của mình để "bảo lãnh" cho họ xin việc làm, có lần ông sẵn lòng đọc một lá thư gửi đến của một sinh viên tại cuộc hội thảo lớn về ngôn ngữ bởi những cảm tưởng và suy nghĩ rất hay của họ mà không cần quan tâm tới chức vụ cao thấp như cách làm thông thường lâu nay.
Còn thầy Nguyễn Hùng Vĩ thì xưa nay được phong là "bà đỡ" của các sinh viên xin việc làm ở các cơ quan báo chí, chở che bao số phận không may của các sinh viên, dường như ít khi vắng mặt ở những nơi họ gặp gian khó hoặc rủi ro. Nhà ông ở khu Mễ Trì trở thành "câu lạc bộ", một "quán Nét" của nhiều cựu sinh viên và tân sinh viên.
Còn Giáo sư Trần Trí Dõi thì thương sinh viên theo cách riêng, đó là phải hướng dẫn cho họ cách làm khoa học đạt được điểm tối ưu, không chiếu cố bất cứ tiêu chuẩn nào. Tôi nhớ có lần một sinh viên khoa ông được một thầy giáo trường khác hướng dẫn luận văn thạc sĩ, không hiểu lý do gì, cứ trục trặc mãi, có nguy cơ bị huỷ kết quả, ông cho gọi cựu sinh viên ấy đến khoa "bắt" làm lại đề cương, viết được phần nào đưa ông chữa hộ. Ông làm việc ngoài giờ, không công, miễn là luận văn của trò được người hướng dẫn chấp nhận...
Thương sinh viên, thương học trò nhưng không bao giờ hạ chuẩn, đó là một nét độc đáo thuộc nhân cách làm thầy của đội ngũ, thầy cô giáo Khoa Ngữ văn. Truyền thống đó được hình thành từ tư duy khoa học của những Giáo sư lừng danh từng đặt nền móng đầu tiên cho Khoa Văn như Giáo sư Đặng Thai Mai; Giáo sư, AHLĐ Trần Văn Giàu; Giáo sư Hoàng Xuân Nhị…
Mạch nước nhỏ làm nên sông lớn. Giờ đây, truyền thống đó của Khoa Văn đang được giao cho PGS. TS Chủ nhiệm Khoa Văn học Hà Văn Đức và GS. TS, Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ Trần Trí Dõi, những người hiền hậu, biết dung hoà mọi cá tính mạnh mẽ để xây dựng nền khoa học góp phần làm rạng danh đạo Thầy dẫu cuộc sống có biến động bể dâu
