Tác phẩm đầu tay hay sự khởi đầu nghiệt ngã

Nồng nhiệt ban đầu nuôi dưỡng một đời văn

Chủ Nhật, 23/10/2011, 10:06
“Tôi cũng chưa bao giờ bỏ viết truyện ngắn. Nhưng về sau tôi bị thơ cuốn đi. Nhưng dù là thơ hay truyện ngắn thì đối với tôi, những trang viết đầu tiên luôn có ý nghĩa. Nó định hình phong cách ngay từ đầu. Mỗi nhà văn có hai giai đoạn, đó là sự nồng nhiệt, ngây thơ, say đắm và một giai đoạn suy ngẫm”, nhà thơ Trần Ninh Hồ tâm sự.

Trần Ninh Hồ có rất nhiều “tuyên ngôn” về thơ qua thơ. Nhưng dù là to tát hay bình thường, thì cuối cùng, thơ hình như chỉ là thơ. Ông quan niệm, nhà thơ luôn đi giữa những lằn ranh giới mong manh của cảm xúc và trí tuệ. Ông liên tục cho ra mắt những tập thơ dày dặn “Lữ thứ với con người”, “Cho người tôi thương nhớ”...  Hình như sự sáng tạo ở ông chưa bao giờ dừng lại. Đi nhiều, viết nhiều và nói nhiều, Trần Ninh Hồ bảo, ông đã đi rất xa cái ban đầu của mình, nhưng điều níu giữ ông trên con đường văn chương vẫn là nguồn mạch tươi mới, nồng nhiệt của cảm xúc từ những trang viết đầu tay…

- Thưa nhà thơ Trần Ninh Hồ, ông đã đi một chặng đường khá dài trên văn đàn Việt Nam. Ông nhớ gì về bài thơ đầu tiên của mình.

- Bài thơ đầu tiên tôi viết năm 20 tuổi, hồi đó tôi đã mê Lécmôntop, Aimatop rồi. Bài thơ viết về một cô bé ám ảnh tôi suốt thời bé. Có một cô bé tản cư, nó mới chỉ lên 7 tuổi cứ lang thang ở làng tôi, trông nó buồn lắm. Tôi đã viết thế này, Có cô bé tản cư/, Một chiều mẹ không về/ Người lớn làng tôi kể/ "Chợ Huyện Tây ném bom/ Bố hình như đã chết/ Hồi chống càn dưới quê…  Ai cũng bảo nó xinh/ Tôi đâu cần điều ấy/ Tôi chỉ thấy tức mình/ Sao nó cứ lặng thinh. Bài thơ ngẫm mà buồn.

Nhà thơ Trần Ninh Hồ.

- Bài thơ đầu tiên để lại dấu ấn trong cuộc đời sáng tác của ông thế nào? Con đường thơ của ông đi đã rất dài, nhưng hình như ông vẫn luôn lưu luyến với bài thơ ban đầu ấy, thậm chí ông còn chọn Cô bé tản cư vào trong tập “Tinh hoa thơ Việt”.

- Vì là cái ban đầu, là kỷ niệm. Tôi viết bằng ký ức, bằng sự nồng nhiệt, tinh khôi của tuổi trẻ. Nó đáng quý lắm. Thơ mà không có điều đó là vứt.

- Nhưng tôi được biết, sau bài thơ đầu tiên của tuổi 20, chặng đường tiếp theo của ông là truyện ngắn. Và ông coi đó mới là những trang viết đầu tiên khởi sự cho sự nghiệp văn chương của mình. Nó bắt đầu thế nào thưa ông?

- Tôi bắt đầu một vệt 4 truyện ngắn đầu tay trong năm 1971, tham dự cuộc thi truyện ngắn của Báo Văn nghệ, 1969-1971: "Trong những món ăn truyền lại", "Từ đấy sang đây…", "Ánh trăng", "Chuyện không lặp lại". Cả 4 truyện này về sau đều được in trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX, quyển hai, tập VII, 2005. Hồi đó, có ai biết tôi là ai đâu, gửi dự thi cũng lo lắng và hồi hộp lắm, đến nhận nhuận bút, người ta còn không cho nhận, vì bị mất chứng minh thư. Truyện ngắn “Trong những món ăn truyền lại” được giải nhì. Hồi đó Phạm Tiến Duật được giải nhất thơ đấy.

Khi tôi đến nhận nhuận bút, gặp ông Ngô Ngọc Bội, ông ấy còn bảo, giải nhì rồi. Tôi chỉ là một nhân viên văn hóa của Ty Văn hóa Hà Bắc cũ, phụ trách tờ tạp chí Công Thương. Hồi đó mới 25-26 tuổi. Sau đó, tôi đi một mạch vào Đông Nam Bộ, gặp ngay mấy trận càn kinh khủng. Dọc đường đi, tôi lại viết thơ, trên đường đi viết truyện ngắn không tiện. Tôi không đi theo đoàn của văn nghệ sĩ, mà theo tiểu đoàn bộ binh, tiểu đoàn 207. Hồi đó lãng mạn lắm, cứ nghĩ, chết thì thôi cơ mà.

- Không phải ai viết những tác phẩm đầu tay đã được ngay giải thưởng, mà lại là giải uy tín nữa chứ. Lúc đó ông có nghĩ, viết văn thật dễ dàng?

- Tôi viết tự nhiên như máu chảy trong huyết quản vậy. Hồi đó, Hội đồng giám khảo toàn những cây đa cây đề, thơ thì có Chế Lan Viên, Xuân Diệu, còn Hội đồng truyện ngắn thì có Võ Huy Tâm, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hoài An. Rồi cả những cụ Kim Lân, Nguyễn Khải, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Kiên. Mình chỉ là lính mới tò te, run lắm chứ. Tôi còn nhớ, truyện ngắn “Trong những món ăn truyền lại” hồi đó dành được số phiếu cao. Trong một bài viết trên Báo Văn nghệ, nhà văn Nguyễn Khải đã nhận xét: "Truyện này không có gì ghê lắm cả. Nhưng có lẽ do nhiều cảm xúc và suy ngẫm nên câu chữ cứ lấp lánh cả lên".

- Những truyện ngắn đầu tay thành công như vậy chắc khích lệ ông nhiều lắm. Lúc đó, ông đã nghĩ mình sẽ theo nghiệp văn chương?

- Hồi đó, tôi theo học một khóa biên tập ngắn ngày của trường Sư phạm tổ chức cho cán bộ biên tập tạp chí của các tỉnh. Và xác định sẽ đi theo văn chương rồi. Giời nó sinh ra thế. Thiên tài thì thiên bẩm, còn tôi chỉ có một chút năng khiếu và thích thôi. Nhưng tôi may mắn lớn lên trong không khí của quan họ. Ông anh cả tôi cũng rất mê viết, ông viết cả cuốn sách về nguồn gốc của quan họ, Giáo sư Trần Văn Khê còn dịch một phần sang tiếng Pháp đấy. Ông rất mê thơ, và mang một mối hận tình, là không làm được thơ, mà sau này đi làm cán bộ nghiên cứu. Rồi các anh chị tôi cũng vậy, ai cũng có một chút "gian díu" với văn chương. Ông anh cả tìm những bài thơ đầu tiên của tôi viết lăng nhăng trên nền nhà, và bảo, thằng này viết được. Điều đó cũng khích lệ tôi. Còn bố tôi, không làm văn chương, nhưng hát cô đầu thì tuyệt lắm.

- Không phải nhà văn nào cũng may mắn khởi đầu những trang viết đã nhận được thành công như của ông. Có những nhà văn, con đường của họ ngay từ ban đầu đã chông gai, thậm chí bị chối từ. Tôi còn nhớ, nhà văn Ma Văn Kháng, khi đọc lại truyện ngắn đầu tay của mình, hình như hồi đó cũng được giải nhưng ông lại cảm thấy hổ thẹn. Còn với ông, giờ ông xếp những truyện ngắn đầu tay vào vị trí nào của mình?

- Những trang viết đầu tiên của tôi, tôi thấy nó đáng yêu vô cùng. Không thể cắt, sửa được một chữ nào. Tôi nghĩ, cũng không phải vì tôi viết quá hoàn hảo, mà do tính cách của tôi, nó định hình thành phong cách ngay từ đầu. Tôi thường viết một mạch, viết truyện cũng như làm thơ ấy, nhiều truyện chỉ một đêm là xong. Đối với tôi, những trang văn đầu đời buộc nhà văn phải nhìn lại, để tìm lại những yếu tố tinh khôi của con người, để loại trừ những yếu tố trục lợi nào đó.

Viết văn để nói gì thì có khi được, nhưng để kiếm gì thì thường là hỏng. Như đứa trẻ trong bài thơ của tôi, ở tận cùng sự cô đơn, nhiều khi nó còn "không được tủi thân" nữa, vì có ai an ủi nó đâu. Bài thơ nhỏ thôi, nhưng cho thấy, con người cô đơn quá. Còn trong cái mạch 4 truyện ngắn đầu tiên đó, tôi còn được cả giải thưởng của Tạp chí Văn nghệ Quân đội, hồi đó giải thưởng tôi mua được nửa cái xe đạp.

- Đến bây giờ ông đã viết rất nhiều truyện ngắn, nhưng "Trong những món ăn truyền lại", vẫn là truyện ngắn mà ông yêu thích. Vì sao vậy thưa ông?

- Nhà văn cũng phải giữ được cái nết văn, văn chương là nết, với tôi, nó hình thành ngay từ những trang viết đầu tiên, dù là thơ hay truyện ngắn. Cái nết ấy, dù có đi đâu, thì cũng là của người Việt.

Trong những món ăn truyền lại” tôi viết về một ông già nấu bếp. Nó là tình yêu thương con người. Là sự trân trọng cái đẹp. Tôi luôn cố gắng dung hòa được sự thâm trầm và hồn nhiên, thậm chí cả tếu táo nữa. Nhà văn sâu sắc nhưng phải là sự sâu sắc một cách hồn nhiên. Ông lính già và cậu lính trẻ trò chuyện với nhau về việc nuôi quân thế nào. Ông này từ thời Việt Minh, kể câu chuyện ông sáng tạo ra các món ăn như thế nào. Truyện đó lọt qua một hội đồng văn xuôi khó tính đấy, có ông Hoài Thanh… do tổ văn biên tập.

- Ông bắt đầu những trang viết bằng truyện ngắn, nhưng rồi ông rẽ ngoặt sang làm thơ, và người ta nhớ đến ông là một nhà thơ. Ông có thể lý giải điều đó như thế nào?

- Tôi chỉ viết khoảng 40 truyện ngắn, in thành 4 tập. Những truyện ngắn đầu tiên, “Trong những món ăn truyền lại” là một trong vài truyện ngắn tôi thích. Nó cũng định hình phong cách của tôi. Nó cũng được chọn đăng trong 100 truyện ngắn hay thế kỷ XX do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành. Thực ra tôi cũng chưa bao giờ bỏ viết truyện ngắn. Nhưng về sau tôi bị thơ cuốn đi. Nhưng dù là thơ hay truyện ngắn thì đối với tôi, những trang viết đầu tiên luôn có ý nghĩa. Nó định hình phong cách ngay từ đầu. Mỗi nhà văn có hai giai đoạn, đó là sự nồng nhiệt, ngây thơ, say đắm và một giai đoạn suy ngẫm. Nói như Alfred  Musset, nhà thơ lãng mạn Pháp: "Cứ gõ vào trái tim anh, thiên tài là ở đó". Đấy là việc của thiên tài, mình không phải là thiên tài, nhưng có lẽ cũng phải qua được cửa ấy.

Văn chương cũng như những thăng trầm của cuộc đời, đôi lúc tôi cứ nghĩ, rồi ai cũng già, rồi ai cũng chết, cách nghĩ của mình dẫn đến mình có những bài thơ riêng, những truyện ngắn riêng, mà nói rộng ra là những trang văn riêng, có thể không kiệt xuất, nhưng không lẫn với ai. Với tôi, những trang viết đầu tay có ý nghĩa như thế. Mỗi một tuổi nó sẽ có những suy nghĩ khác, nhưng Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, ngàn năm hồ dễ mấy ai quên… Sau này, cuộc đời có nhiều sự lung lạc, đôi khi làm hỏng tính cách văn chương của mình. Nhưng không thể xa rời cái căn cốt ban đầu.

- Nghĩa là những trang viết đầu tiên đối với nhà thơ Trần Ninh Hồ, đó không chỉ là sự khởi đầu, mà còn định hình một phong cách, như một sợi dây để nhà văn neo bám vào đó?

- Tuổi trẻ có cái đắm say, nồng nhiệt của nó, và tôi luôn trân trọng. Đến bây giờ, chưa chắc tôi đã vượt được cái thời đó. Lécmontop, Nguyễn Nhược Pháp từ khi còn rất trẻ, họ đều thành công từ tác phẩm đầu tay đấy thôi. Đặng Thế Phong viết xong Giọt mưa thuCon thuyền không bến là chết…

- Tôi nghĩ, hình như ông đang nói về khoảnh khắc đầu tiên của các thiên tài, mà thiên tài thì hiếm lắm thay, bởi sự khởi nghiệp trang viết của nhà văn cũng nhọc nhằn lắm.

- Cho đến nay, đã 60 tuổi rồi tôi vẫn tâm niệm, nhà văn và triết gia vẫn khác nhau. Mặc dù từ thời cổ đại, người ta cũng chỉ tính có ba người, anh hùng, triết gia và thi sĩ mà thôi. Tác phẩm ban đầu có sự say đắm và hồn nhiên và ngây thơ nữa. Sau đó thì cố gắng trầm tĩnh lại, nhưng cái lõi là sự nồng nhiệt vẫn phải giữ, giữ được sự nồng nhiệt thì sự sâu lắng kia mới ấm áp, và có khả năng gợi mở cho những suy ngẫm, không lạnh lẽo. Triết gia có thể chỉ đưa ra những triết lý lạnh lùng, lý tính, chứ nhà văn vẫn phải có sự say mê, quyết không được lạnh lẽo, cần nuôi những yếu tố của tuổi trẻ, cái ban đầu ấy. Nó xuyên suốt đấy. Buổi đầu có sự ngây thơ đến ngây ngô. Nhưng người ta vẫn gọi nó là cái màu của văn chương, nó như men rượu ấy. Dù ngây ngô cực đoan, nhưng chỉ có tuổi trẻ mới có. Nhà văn thỉnh thoảng nên đọc lại mình, để thấy tuổi trẻ của mình và bước tiếp.

- Ông nhiều năm làm việc trong Ban nhà văn trẻ của Hội Nhà văn. Ông đọc của họ rất nhiều. Ông có nhận xét như thế nào về họ?

- Trẻ thường bao giờ cũng thích khoa trương, học đòi và hiếu thắng, dễ rơi vào một trong hai thứ mà loài người không ưa, đó là loại cái gì của mình cũng là đúng nhất và một loại là làm gì cũng hỏng. Thời trẻ của tôi cũng thế. Cho nên, trang viết đầu tay của tôi có thể hay hay dở, nhưng tôi luôn yêu nó. Bởi vì văn chương, tưởng như bắt đầu từ ý thức, tôi tin ý thức có thể sinh ra những công dân mẫn cán, những người đầu đuôi. Nhưng mọi sáng tạo nghệ thuật, văn chương hình như lại bắt nguồn từ vô thức và tiềm thức… Có những bài thơ cổ lỗ/ Dường như quên đã lâu rồi/ Chợt có một ngày nào đó/ Bài thơ về với riêng tôi.

Tôi đọc nhiều người trẻ, từng tổ chức 4 kỳ Đại hội Nhà văn trẻ. Tài năng phải đi liền với cách ứng xử văn hóa. Cái "đanh đá, nanh nọc" của Xuân Quỳnh đáng yêu lắm. Nồng nhiệt nhưng không hoắng. Có thể ngông, nhưng không ngạo. Thơ trẻ vẫn có khuynh hướng thích khoa trương, Cố làm lạ câu thơ/ Lại tưởng là thơ lạ. Tôi quay về tuổi trẻ, những trang viết đầu tiên như con người ta thường thích nhìn lại thời thơ ấu của loài người. Nhìn về nó để biết mình đã đi từ đâu, đi qua đâu và về đâu. Và tuổi trẻ giúp tôi hồi sinh trong những câu thơ. Chẳng dễ gì trao nhau trọn đời đâu/ Xin người nhận nơi ta một ngày thu này vậy/ Một ngày thu với ánh vàng lộng lẫy/ Ôi ánh vàng thức dậy một đời cây.

- Một người luôn hoài niệm về tuổi trẻ, sống bằng những cảm xúc của tuổi trẻ, về thuở ban đầu. Giờ ở tuổi không còn trẻ, ông đang viết gì?

- Giờ tôi vẫn viết những cái mình thích, những sự thật cuộc đời mình chưa kịp viết. Và ở đó, tôi lại gặp tuổi trẻ của mình, những trang viết đầu tiên.

Ấy là nói vậy, có thể là chưa đâu vào đâu, càng viết tôi càng cảm thấy một nỗi lo không bao giờ hết cả. Mình viết rồi mình lại đọc/ Rồi mình có tự lãng quên/ Lá xanh rồi lá tự rụng/ Chữ thành lá rụng đầy đêm.

- Cảm ơn nhà thơ Trần Ninh Hồ về cuộc phỏng vấn thú vị này

Khánh Linh
.
.
.