Những quả chuông quý

Thứ Năm, 16/03/2006, 09:20

Chuông là nhạc cụ mang theo linh khí được tin sùng từ cổ xưa, xếp đứng đầu trong “bát âm” (tám thứ nhạc cụ của dân tộc) sử dụng trong nghi lễ truyền thống. Chất kim loại luyện qua lửa mà thành chuông, âm thanh vang xa.

Chuông đồng thường được đánh bằng chùy gỗ. “Gỗ lao vào đồng mà như không lao, người cầm dùi chuông phóng tay mà như giữ, chuông động mà không lắc, tiếng kêu phát ra từ bên trong tiếng rung”. Không phải duy nhạc cổ coi trọng, phàm lấy đó để thức tỉnh lòng mê muội, giác ngộ điều ứng nghiệm, chuông đứng đầu trong tứ khí của nhà Phật.

Trong kho tàng tục ngữ lưu truyền ở vùng Bắc Bộ, có câu: “Chuông Kẻ Sống, ống Kẻ La, mõ Kẻ Ngà, oản Cầu Ngái”, lời truyền tụng từ xa xưa dắt tôi đi tìm chuông Kẻ Sống. Quả chuông báu ngự tại ngôi chùa cổ mang tên Đại Phúc Tự, làng Vân Lũng xã An Khánh, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây. Chuông được đúc năm 1613, cao 129cm, dày 4cm, đường kính 73 cm. Quai chuông hình con rồng uốn lượn, cầu kỳ tinh xảo. Mặt chuông khắc bài minh văn chữ Hán cùng những dòng chữ lớn: “Phúc Lâm viện”; “Đại Phúc tự”; “Hồng trú tạo”; “Tích cổ trung”; “Hoằng Định vạn niên chi thập tứ, Quý Sửu niên ngũ nguyệt sơ thập nhật tạo trú hồng chung”.

Xưa kia chùa Đại Phúc là một viện đào tạo tăng ni. Trên câu đầu của chùa có dòng chữ “Phúc Lâm viện”. Hàng năm cứ đến ngày Phật kị (mồng tám tháng tư) là ngày hội chùa, tiếng chuông ngân vang, dân khắp tổng trẩy hội đông vui. Ca dao có câu: “Nhớ ngày mồng tám tháng tư, không đi hội Sống thì hư mất người”.

Tuy nhiên kỷ lục quả chuông lớn nhất nước ta lại thuộc về ngôi chùa Cổ Lễ. Chùa Cổ Lễ (tên chữ Thần Quang tự) nổi tiếng bởi nhiều công trình kiến trúc đẹp, tọa lạc tại thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Chùa do Cao tăng Minh Không tạo dựng từ thế kỷ XII. Đầu thế kỷ XX, nhiều công trình bề thế mang giá trị nghệ thuật cao đã được xây dựng tạo nên cảnh quan vừa thâm nghiêm vừa trữ tình cho ngôi chùa.

Trong chùa còn lưu giữ nhiều bảo vật: gậy tích, trống đồng, tượng đức Thánh Tổ. Nhưng đáng quan tâm nhất là Đại hồng chung lớn nhất Việt Nam. Chuông nặng 9 tấn do Hòa thượng Thích Thế Long cho đúc vào năm 1936, phường đúc đồng Ngũ Xã (Hà Nội) thi công. Chuông cao 420cm; đường kính 220 cm; thành dày 8cm. Quai chuông hình đôi rồng tráng kiện đấu đuôi vào nhau. Miệng chuông và khoang dưới chạm hoa văn cánh sen. Trong kháng chiến chống Pháp, các nhà sư phải giấu chuông dưới đáy hồ nên không bị giặc phá hủy. Năm 1954, chuông được kéo lên đặt trên cầu cuốn trước thượng điện. Từ năm 1997, kim chung bảo các (gác chuông) hoàn thành, chuông được treo lên để du khách thập phương tới chiêm bái.

Trên khắp mọi miền đất nước, nơi đâu hiện hữu đình, chùa, thì ở đó ắt có chuông đồng, bởi đấy chính là linh khí trong tâm linh dân tộc. Theo các thư tịch cổ, chuông đồng được đúc rất nhiều vào thời Lý, nhưng trong những năm đầu độc lập sau Cách mạng Tháng Tám, các nhà khảo cổ học chỉ tìm thấy những chuông có niên đại sớm nhất vào thời Trần, chưa tìm thấy một dấu ấn vật chất nào liên quan tới chuông đồng thời Lý trở về trước.

Vào năm 1958, nhân dân ta vớt dưới đáy biển Đồ Sơn (Hải Phòng) lên một quả chuông cổ, kích thước tương đối lớn, cao 125cm, đường kính miệng 80 cm. Bài minh trên chuông cho biết nơi lưu trú là chùa Vân Bản, nhưng không thấy ghi niên đại tạo tác. Sau nhiều năm nghiên cứu, nhà khảo cổ học Trần Huy Bá  đã phân tích đoán định niên đại chuông là thời Lý, và được các nhà khoa học  coi là quả chuông cổ nhất Việt Nam.  Chuông Vân Bản trở thành bảo vật quốc gia, được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.  Gần 20 năm sau, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Chiến đã đưa ra những chứng cứ thuyết phục để chứng minh chuông Vân Bản thuộc niên đại thời Trần, thế kỷ XIII. Cho tới thời điểm năm 1985, vẫn chưa tìm thấy quả chuông nào khác phá được kỷ lục cổ nhất Việt Nam của đại hồng chung Vân Bản.

Chuông Kẻ Sống (trái) và chuông Thanh Mai, niên đại 798, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Hà Tây.

Năm 1986, một người dân làng My Dương (xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai, Hà Tây) trong khi đào đất đóng gạch ở khu vực cách chùa Thanh Mai 150m, đã phát hiện ra một quả chuông đồng cổ. Ngành Văn hóa cùng các nhà chuyên môn đã nhanh chóng vào cuộc, xác định và thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng: chuông Thanh Mai được đúc năm Trinh Nguyên thứ 14, thời nước ta thuộc Đường (năm 798), và là quả chuông cổ nhất được phát hiện ở Việt Nam. Chuông Thanh Mai đã trở thành sự kiện quan trọng trong hội nghị: “Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 1986”.

 Hiện ở Bảo tàng Lịch sử quốc gia có lưu giữ một phiên bản của chuông Thanh Mai. Quả chuông gốc được lưu giữ bảo tồn tại Bảo tàng Hà Tây. Chuông Thanh Mai còn nguyên vẹn, được đúc rất khéo bằng khuôn đúc hai mang, thân dày và đều, chất liệu đồng để đúc chuông khá tốt nên cho tới nay vẫn không bị hoen gỉ. Bài minh trên chuông bằng chữ Hán, đa số chữ còn đọc rõ, ước khoảng 1.500 chữ. Mở đầu là dòng ghi niên đại: “Trinh Nguyên thập tứ niên tuế thứ Mậu Dần tam nguyệt Tân Tị sóc trấp nhật Canh Tuất” (ngày 20 Canh Tuất, tháng 3 Tân Tị nhuận, năm Mậu Dần Trinh Nguyên thứ 14). Tiếp theo viết về 53 người đúc chuông đồng nặng 90 cân ta (36kg) để lưu truyền cúng dường làm nhạc khí dùng trong nghi lễ Phật giáo.

Năm 1987, nhà Hán Nôm học  Phạm Văn Thắm tìm ra một quả chuông quý khác, ấy là chuông của đình thôn Nhật Tảo (Từ Liêm, Hà Nội ). Chuông cao 0,32m; đường kính miệng 19cm; nặng 5,4kg; quai chuông uốn cong cao 0,07m làm thành hai đầu thú có sừng. Trên mặt chuông khắc bài minh văn  gồm 210 chữ Hán. Căn cứ vào bài minh thì quả chuông được đúc ngày 9/6/948. Tuy nhiên, chuông Nhật Tảo vẫn không phá được kỷ lục cổ nhất Việt Nam của chuông Thanh Mai

Chu Minh Khôi
.
.
.