Những nhà phê bình "không biết mình là ai"

Chủ Nhật, 23/11/2008, 09:52
Trong thực tế, một số nhà phê bình không chỉ viết bừa, viết ẩu mà còn diễn trò trước thiên hạ hết sức lố lăng. Ông thì để học trò viết sách ca ngợi thầy tít mù, phong tùy bút của thầy ngang ngửa với tùy bút của Nguyễn Tuân, tạo ra thế chân kiềng "tam diện tùy bút" với ba gương mặt sáng giá...

Để nhìn nhận tình trạng một cách trung thực, có thể nói một cách thẳng thắn rằng hiện tại, trong nhiều nguyên nhân của cuộc khủng hoảng lý luận - phê bình có một nguyên nhân là sự tràn lan của những bài viết được gọi là phê bình văn học đã đăng tải trên báo chí.

Sự tràn lan này, sau một thời gian quá lâu, đã góp phần tạo ra thói quen coi cảm nhận văn chương cũng là phê bình văn học, coi phê bình tương ứng với ngợi ca; coi khảo sát cái dở, phê phán cái xấu trong tác phẩm là "bị đánh". Rồi một số người làm phê bình buông xuôi theo lối viết dễ dãi, chiều theo thị hiếu của một bộ phận bạn đọc, thậm chí chiều theo tác giả do quan hệ thân quen hoặc để giúp… bán sách.

Nói cho đầy đủ, đa số nhà phê bình văn học ở Việt Nam hiện nay chưa có sự thống nhất về quan niệm, về các tiêu chí cơ bản (dù tương đối) để định giá tác phẩm, nên tình trạng chung là thích gì nói nấy, mạnh ai nấy nói, mạnh ai nấy viết, viết cả điều rất kỳ quặc mà không thấy "ngượng bút"... Nghĩa là phê bình đang trở thành "sân chơi" của quá nhiều cây bút nghiệp dư! 

Điểm danh sơ bộ, các nhà phê bình văn học dưới 50 tuổi hiện nay chủ yếu làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy văn học, như Nguyễn Đăng Điệp, Chu Văn Sơn, Ngô Văn Giá, Trần Văn Toàn, Phạm Xuân Thạch,… số khác đang làm báo như Nguyễn Chí Hoan, Hoài Nam… Đây là những người đang nổi lên như là cây bút phê bình có uy tín. Làm nghề cùng với họ, số bài vở đăng tải có khi còn nhiều hơn là một số tác giả cũng làm nghiên cứu, giảng dạy hay làm báo chí nhưng đọc các cây bút như P.Q.T., B.V.T., N.T.M.T., V.G.T... thường thì tôi chán nản hơn thích thú.

Vài lần đọc bài, nghe phát biểu của một nhà phê bình đang là giảng viên đại học, thấy vị này hay lấy ý kiến của sinh viên làm "thước đo", tôi rất ngạc nhiên. Dần dà, sau nhiều lần thì tôi không muốn đọc hay nghe tác giả này nữa.

Loanh quanh trên giảng đường, lấy thị hiếu sinh viên làm tiêu chí, nhà phê bình quên mất rằng với nhà phê bình, trước hết phải là ý kiến của chính mình chứ không phải là của học trò (cho dù trong số đó có người rất xuất sắc, tinh tường). Chưa nói, nhà phê bình này thường có cảm hứng cao độ trước tác phẩm của một nhà văn rất thành thạo kỹ nghệ PR. Bất kỳ tác phẩm nào của nhà văn mới xuất bản cũng ca ngợi hết lời, bất chấp tình huống sau đó đa số tác phẩm đều "đoản mệnh"!

Một nhà phê bình khác, cũng làm nghề dạy văn thì hăng hái và rất tự tin. Tại một vài hội thảo có ông tham dự, tôi thấy ông rất tài tình: chủ đề của hội thảo là A, ông lại phát biểu theo chủ đề B, mà cứ thản nhiên như không. Từ đặc điểm độc đáo này, liên hệ với các bài phê bình ông viết thì điều tôi nhận xét trên Ngày nay rằng một bài phê bình của ông là "sản phẩm thứ cấp" quả cũng không sai.

Mới rồi, trên Nghiên cứu Văn học, thấy ông phê bình trong “Cánh đồng bất tận” nhà văn Nguyễn Ngọc Tư sử dụng nhiều phương ngữ, tôi cứ buồn cười. Phê bình như thế có khác gì yêu cầu trong tác phẩm, người Nam Bộ phải nói năng như ngôn ngữ của người Bắc Bộ, người Mông phải nói năng như người Việt.

Đến khi đọc bài “Bắt mạch văn trẻ” đăng trên một tờ báo ở Thủ đô thì tôi chán hẳn. Ông "lang băm" tự nhận là "người khuynh trẻ" bắt được bảy cái mạch vừa ngô nghê, vừa ấm ớ đến mức theo tôi, nếu coi đó là phê bình văn học thì đúng là phê bình của chúng ta đang có vấn đề.

Hãy đọc một đoạn ông viết: "Căn bệnh thứ bảy của văn trẻ là sự lạm dụng khẩu ngữ… Các cây bút trẻ ưa chuộng đưa khẩu ngữ vào thay thế văn viết trong tác phẩm - hình tượng này là phổ biến và như là một thứ "mốt". Những người viết trẻ cho đó là một cách làm cho văn chương gần gũi với đời sống: "Bà cụ có anh con trai giống y chang tôi" (Tiến Đạt: “Vào đời”). Những từ "y chang", "hết sảy", "bét nhè", "ráo trọi", "dễ thương"... rất hay nếu nó là khẩu ngữ nhưng chắc chắn là không hay nếu là văn viết. Sinh ra nhà văn là để làm cho ngôn ngữ trong sáng, hàm súc, giàu có chứ không phải để làm nghèo nàn nó…".

Chưa bàn tới việc nhà văn sử dụng các từ như “y chang”, “hết sảy”, “bét nhè”, “ráo trọi”, “dễ thương” trong tác phẩm thì có làm cho văn chương nghèo nàn đi hay lại làm văn chương sinh động hơn, nguyên lối hành văn của ông ở đoạn trên cũng đã thấy kỳ lạ, thiếu trong sáng, vì "những từ" (số nhiều) không tương đương với "nó" (số ít), còn khái niệm "tác phẩm - hình tượng" ông sử dụng trong câu này thì đúng là… kỳ khu!

Một nhà phê bình khác, phó giáo sư, tiến sĩ đàng hoàng, viết bài nào nhạt bài ấy, và rất đáng khâm phục là phát biểu ở hội nghị, hội thảo nào ông cũng coi đồng nghiệp như học trò, như là tìm thấy khoái cảm trong việc dạy dỗ người khác, đánh đồng diễn đàn trao đổi về nghề nghiệp với giảng đường.

Hôm mới rồi, ông có bài “Lý luận văn chương Việt Nam ở hải ngoại thế kỷ XX” đăng trên Văn nghệ. Đọc nhan đề, ngỡ ông nghiên cứu kinh lắm, lý luận văn chương của người Việt ở nước ngoài một thế kỷ cơ mà. Ngờ đâu, ông chỉ đánh giá đúng hai cuốn sách in vào cuối thế kỷ của đúng một tác giả. Lấy có hai cuốn sách của một tác giả thay cho "Lý luận văn chương Việt Nam ở hải ngoại thế kỷ XX" thì đúng là vui tính thật.

Cái lối viết "thùng rỗng kêu to", ngôn từ xủng xoảng như của ông phó giáo sư, tiến sĩ này nhìn chung khá phổ biến, mà theo tôi, tiêu biểu gần đây là cuốn sách “Quy luật của văn chương” của nhà phê bình X. Đọc hết mấy trăm trang sách, chẳng thấy quy luật của văn chương ở đâu, chỉ thấy la liệt kiến thức mỹ học, văn học rất sơ đẳng được trình bày rất hùng hồn.

Như điều ông X khẳng định: "Những biến động và sự ra đời của các thời đại văn chương huy hoàng luôn bắt đầu từ những nhu cầu đổi mới lý luận văn học" chẳng hạn. Ô hay, tính theo tuổi đời thì lý luận văn học trong tư cách là hệ thống lý thuyết khoa học về văn chương mới ra đời quãng một hai trăm năm nay, từ ngày khoa học bắt đầu chuyên môn hoá.

Thời Lý Bạch, Đỗ Phủ, Thôi Hiệu, Bạch Cư Dị… làm nên thơ Đường thì nhu cầu đổi mới lý luận văn học có mặt mũi vuông tròn ra sao (mà thơ Đường đâu phải là không "huy hoàng")?

Ở nước Nam này, không kể những giai đoạn văn chương trước nữa, chỉ kể từ thời Nguyễn Bỉnh Khiêm, Cao Bá Quát, Nguyễn Du… gần hơn là thời Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính… cùng Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan… thì nhu cầu đổi mới lý luận văn học có hình thù thế nào, không thấy ông trình bày?

Rồi ông viết tiếp: "Sự ra đời của phương pháp luận duy vật biện chứng ở phương Tây và triết lý âm dương ngũ hành và Kinh dịch ở phương Đông đã thật sự tạo nên sự chuyển biến về chất cho quá trình nhận thức cuộc sống của nhân loại". Nếu muốn tỏ ra uyên bác, khi nói đến sự chuyển biến về chất trong quá trình nhận thức cuộc sống của nhân loại, người ta phải nói tới phép biện chứng duy vật, không có phép biện chứng duy vật thì lấy đâu ra phương pháp luận duy vật biện chứng.

Riêng điều ông quả quyết: "Triết lý âm dương ngũ hành và Kinh dịch ở phương Đông đã thật sự tạo nên sự chuyển biến về chất cho quá trình nhận thức cuộc sống của nhân loại" thì tôi chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm. Mong ông dẫn ra ví dụ và chứng minh "âm dương ngũ hành và Kinh dịch" đã "tạo nên sự chuyển biến về chất cho quá trình nhận thức cuộc sống của nhân loại" như thế nào. Không chứng minh cho rành rẽ điều đó, hẳn là ông chỉ viết bừa, viết ẩu mà thôi?

Trong thực tế, một số nhà phê bình không chỉ viết bừa, viết ẩu mà còn diễn trò trước thiên hạ hết sức lố lăng. Ông thì để học trò viết sách ca ngợi thầy tít mù, phong tùy bút của thầy ngang ngửa với tùy bút của Nguyễn Tuân, tạo ra thế chân kiềng "tam diện tùy bút" với ba gương mặt sáng giá gồm Nguyễn Tuân, Nguyễn Ngọc Lan và… Đỗ Lai Thuý!

Còn ông khác thì tự đánh giá cống hiến của bản thân với văn học Việt Nam như thế này: "Xuất hiện muộn nhưng đã gây được chú ý cho giới nghiên cứu văn học bằng các công trình nghiên cứu thi pháp từ năm 1981… Ông đưa vào nghiên cứu văn học Việt Nam nhiều khái niệm mới như quan niệm nghệ thuật về con người, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật… Hướng nghiên cứu của ông có ảnh hưởng rộng rãi trong nghiên cứu văn học những năm 90 thế kỷ XX, mở ra triển vọng nghiên cứu sự vận động và quy luật phát triển hình thức trong văn học Việt Nam…".

Khiếp quá, bói ra được một nhà lý luận - phê bình nào đó ở Việt Nam đã có cống hiến ghê gớm như vậy chắc là điều bất khả, huống hồ là tự khen mình. Liệu còn có gì đáng nói hơn không?

Trong bối cảnh đó, đứng trước tình trạng khủng hoảng của văn chương, một số nhà văn, nhà thơ không tự xem xét lại bản thân mà quay sang trách cứ… "chỉ tại phê bình". Tuy nhiên, lại có nhà văn chộp vội chộp vàng lấy mấy sinh viên đại học và học viên cao học, phong cho họ danh hiệu nhà nghiên cứu - phê bình trẻ, đôn họ lên thành nghiên cứu sinh chỉ vì trong khóa luận tốt nghiệp đại học và luận văn cao học họ lấy tác phẩm của ông làm đối tượng nghiên cứu.

Mới đây, trong cuốn sách "treo đầu dê bán thịt chó" (nói cách khác là "lừa" người đọc, vì in lại một cuốn tiểu thuyết cũ và "độn" thêm vài chục trang kịch bản) nhà văn ca ngợi họ thế này: "Tôi muốn dẫn chứng tới 5 bản luận văn - thực chất là 5 công trình nghiên cứu công phu, đầy can đảm - do tính mạo hiểm trong việc chọn đối tượng - của 5 sinh viên và nghiên cứu sinh, được nhiều nhà chuyên môn và bạn đọc đánh giá cao…, trong đó 3 công trình như vậy đã được in thành sách…".

Vâng, nếu 5 công trình được nhiều nhà chuyên môn và bạn đọc đánh giá cao thì tại sao trên văn đàn tuyệt nhiên không ai nhắc tới, hơn nữa nếu ai đó không đứng ra "hậu thuẫn" thì mấy khóa luận rồi luận văn kia có được xuất bản hay lại nằm mốc meo trong kho lưu trữ?

Mà sau khi viết khóa luận, luận văn xong thì mấy nhà nghiên cứu - phê bình trẻ biến sạch đi đằng nào, chẳng thấy tiếp tục xông ra mạo hiểm viết lách lấy một lần? Xin lỗi, nếu lấy khóa luận đại học, luận văn cao học làm tiêu chí tấn phong thành nhà này nhà nọ thì ở nước Nam ta đã có vài vạn "nhà" như thế.

Về những điều vớ vẩn trong cuốn sách mà nhà văn đưa ra khoe với thiên hạ, tôi đã đề cập trong một số bài viết đã công bố, song không thấy tác giả hay nhà văn đứng ra biện hộ (cũng chẳng thấy ai đứng ra bênh vực?). Phải chăng, với nhà văn này, chỉ những ai ca tụng ông thì mới xứng đáng là… nhà lý luận - phê bình?

Hà Yên
.
.
.