Như những con tằm rút ruột nhả tơ

Thứ Sáu, 17/11/2006, 11:00
Chúng tôi không phải là những người sinh ra để làm nghề báo. Một cách nào đó, dù là vô tình thì nghề báo đã chọn chúng tôi. Hay nói cho thật xác đáng hơn trong những lối rẽ tình cờ của số phận, nghề báo đã dang rộng cánh tay đón chúng tôi, cho chúng tôi một công việc đúng vào lúc chúng tôi bế tắc và lúng túng nhất khi cầm trên tay những tấm bằng đại học mà để xin được việc làm không phải là dễ.

Tôi và Đặng Huyền tốt nghiệp Đại học Sư phạm, Hồng Lam Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Ba chúng tôi ở 3 miền Bắc- Trung- Nam không hẹn mà gặp và trở thành đồng nghiệp của nhau ở tờ báo An ninh thế giới, hiện là tờ Công an nhân dân. Để được trở về hội tụ ở tờ báo lớn và có số lượng bạn đọc đông đảo vào loại bậc nhất trong số những tờ báo lớn hiện nay, chúng tôi vô cùng hàm ơn Tổng biên tập Hữu Ước. Anh đã mạnh dạn "nhặt nhạnh" chúng tôi khi đó còn là những cây bút "mới toe" ở những tờ báo "tỉnh lẻ" về và trao cho chúng tôi một công việc có ích, truyền cho chúng tôi một ngọn lửa nhiệt huyết, và anh cũng trao luôn một trách nhiệm trĩu nặng một áp lực vô hình. Đó là áp lực của nghề báo trong lực lượng Công an.

So với các anh, các chị làm báo trưởng thành ở CAND, ANTG, chúng tôi vẫn luôn tự nhắc mình là lớp hậu sinh, những nhà báo trẻ. Cả ba chúng tôi đều là những phóng viên của Chuyên đề An ninh thế giới, và nghề viết đã cho chúng tôi không biết bao nhiêu kỷ niệm, những bài học nhớ đời và cả những giọt nước mắt phải rơi. Trong số 3 chúng tôi, thì phóng viên xông xáo, đi đến nhiều điểm nóng nhất là Nguyễn Hồng Lam. Anh cũng là người gặt hái được nhiều giải báo chí toàn quốc bởi những thiên phóng sự gây xúc động lòng người. Năm 2001, Hồng Lam nhận giải nhì Báo chí toàn quốc với loạt phóng sự gây rung động độc giả trong và ngoài nước: "Kusujeour- người viết lại di chúc của những oan hồn" kể về cô gái Hàn Quốc Kusujeour đến Việt Nam và là người đã tìm ra 167 vụ thảm sát của lính Hàn Quốc đối với người dân vô tội Việt Nam ở trên 5 tỉnh miền Trung. Năm 2005 anh đoạt giải nhì báo chí toàn quốc về phóng sự: “Người nông dân 10 ngàn lần chạm mặt tử thần".

Trong vô vàn những kỷ niệm khắc nghiệt của nghề báo, anh nhớ nhất là hai lần chạm mặt với "kẻ thù". Đó là năm 1999, trong giai đoạn xét xử vụ án "Đại lâm tặc Đinh Mạnh Hồ phá rừng Tánh Linh" Hồng Lam cùng với phóng viên Hồ Việt Khuê rủ nhau lên lại rừng Tánh Linh viết thêm chân dung các "tiểu lâm tặc". Anh Nguyễn Văn Hoè một tiểu lâm tặc của rừng Tánh Linh, đã xung phong dẫn hai anh em lên rừng, và cho hai anh nghỉ lại nhà. Trong lúc ăn cơm tại nhà anh Hoè, một đám tiểu lâm tặc là tay chân của Đinh Mạnh Hồ phát hiện ra hai nhà báo viết bài về vụ phá rừng của "đại ca Hồ". Chúng kéo khoảng hơn 20 người quây lại trước cửa nhà Hoè và xông thẳng vào bàn nhậu phi một con dao găm cắm phập xuống mặt bàn lớn tiếng tuyên bố phải chém sạch quân nhà báo này. Anh Hoè tức tốc mang ra một chiếc búa đi rừng và cắm ngay giữa nhà tuyên bố ai dám đụng đến hai nhà báo ngay trong nhà tao là chém.

Cuộc gây chiến kéo dài từ chiều đến xẩm tối, hai nhà báo được Công an xã và chủ nhà mở đường cửa sau giải thoát. Hai anh em chạy một mạch về nhà khách của UBND huyện Tánh Linh. Đến nơi cũng là lúc ti vi phát bản tin thời sự buổi tối có ông Bí thư Huyện uỷ đang phát biểu khuyên bà con nhân dân cảnh giác với những nhà báo và các bài viết không trung thực gây kích động trong dân chúng. Cô lễ tân nhà khách tỏ vẻ e ngại khi hai anh em chìa thẻ nhà báo ra, và cho biết từ chiều đã có mấy người lảng vảng ở đây hỏi thăm có nhà báo nào đến đây nghỉ chưa. Không còn cách nào khác, nhà khách hôm đó đóng cửa sớm, tắt hết đèn, ti vi, theo yêu cầu của hai vị nhà báo. Tối hôm đó, đám người hiếu chiến ấy chừng 20 tên đi xe máy phóng ầm ầm lên nhà khách rú còi, la hét om sòm và xục xạo tìm hai nhà báo. Nhà báo Hồng Lam và Hồ Việt Khuê đã có một đêm thức trắng dưới gầm giường với một nỗi sợ hãi khá "nhớ đời" để trốn đám người kích động kia.

Sau trận "trốn lâm tặc" chừng 1 tháng, anh lại có chuyến đi lên bãi vàng Phước Sơn để viết bài. Từ thị trấn Khâm Đức lên bãi vàng Phước Sơn 34 km, đi xe ôm hết 500 ngàn đồng. Hoá trang lôi thôi lếch thếch trong vai một tay "mọi" xin việc, Lam đến gõ cửa một chủ "bưởng" lớn nhất ở bãi vàng Phước Sơn. Chủ "bưởng" lúc đó đang nằm trên võng đung đưa tay cầm tờ báo ANTG chăm chú đọc. Không thèm bỏ tờ báo xuống, chủ "bưởng" lạnh lùng: "Thợ chi mà thợ, ông là nhà báo Hồng Lam Báo ANTG". Hoá ra, chủ "bưởng" này có người bà con bị toà xử trong vụ án phá rừng Tánh Linh. Suốt thời gian toà xét xử, không sót buổi nào anh ta không có mặt ở toà và để ý quan sát các nhà báo trong đó anh đã nhẵn mặt nhà báo Hồng Lam. Vậy là không cần vào vai thợ đào vàng để lấy tư liệu viết bài, chuyến đi ấy anh trở thành khách VIP của chủ "bưởng" lớn nhất ở bãi vàng Phước Sơn. Từ đó, anh tâm niệm: Làm cái gì thì cũng phải làm cho tử tế, bởi cả những nơi thâm sơn cùng cốc người ta cũng nhận ra mình.--PageBreak--

Tác giả của những bài viết chuyên sâu về các vụ án, nhận diện tội phạm hết sức sắc bén, chặt chẽ, chuẩn mực và đầy tính nhân văn mà đến cả lúc này bạn đọc luôn nhầm tưởng là con trai lại chính là nữ nhà báo Đặng Huyền. Chị cũng là một trong những cây bút có mặt đầu tiên khi báo ANTG ra mắt bạn đọc, và đã gặt hái được những thành công trong lĩnh vực báo chí. Năm 1996 chị đoạt giải báo chí toàn quốc với tác phẩm phóng sự điều tra. Nhớ lại muôn nẻo những chuyện vui buồn trong cuộc đời làm báo của mình, chị tâm sự: Nghề báo có một áp lực ghê gớm. Mỗi một ngày chị thức dậy, cảm giác nợ nần với công việc lại luôn đeo đẳng. Hiếm có công việc nào mà bản thân mình bị công việc truy đuổi tận cùng như nghề báo. Áp lực nghề báo không đơn thuần chỉ là việc phải săn tin, viết bài, phải đi công tác xa… áp lực kinh khủng nhất của nghề báo đó là phải viết đúng, viết khách quan. Có một điều mà hầu hết những người làm điều tra hoặc phóng sự điều tra đều đã từng gặp đó là cùng một vụ việc có liên quan đến nhiều bên, nhà báo gặp bên nào cũng thấy họ nói đúng, còn bên kia sai. Trong những trường hợp như vậy, áp lực đối với nhà báo là làm sao phải thật tỉnh táo để viết bài một cách khách quan, không thiên lệch.

Kỷ niệm làm báo nhớ nhất của Đặng Huyền là khi chị viết về một nữ kỹ sư bị trù dập trong công trình xây dựng chợ Đồng Xuân. Nữ kỹ sư này khi đến toà soạn ANTG gặp chị đã khóc rất nhiều vì lý do theo chị trình bày là chị được phân công nhiệm vụ làm giám sát. Khi người ta đưa ra bản quyết toán không hợp lý, chị không ký và vì thế người ta đã tìm mọi lý do để bắt buộc chị nghỉ việc. Chị đã cùng với các đồng nghiệp tại Báo Phụ nữ TP Hồ chí Minh, Báo Lao động, Đài tiếng nói Việt Nam điều tra theo đơn tố cáo của người nữ kỹ sư này, tìm mọi cách để "buộc" những người có liên quan trong vụ việc này phải trả lời phỏng vấn để làm rõ sự việc. Sau hơn một năm và sau hàng loạt các bài viết của chị cùng đồng nghiệp, cuối cùng nữ kỹ sư này đã được trở lại làm việc bình thường, và trở thành bạn bè của chị cùng các đồng nghiệp khác.

So với hai nhà báo trên thì tôi về ANTG muộn hơn, tuổi nhỏ hơn chút đỉnh và cũng đã từng vinh dự được nhận giải báo chí toàn quốc về chân dung: "Cuộc đời và số phận của người kỹ sư Việt Nam đầu tiên được nhận Huân chương Lênin". Trước khi trở thành một người chuyên viết về chân dung nhân vật và các câu chuyện đằng sau số phận thì tôi cũng bắt đầu trình làng ANTG bằng những chuyến đi xuyên Việt "săn phóng sự". Nhớ lại những năm tháng "đường trường" ấy có hai chuyện làm cho tôi ám ảnh nhiều nhất. Đó là những lần vào trại giam gặp các tử tù. Mỗi một trai giam có những số phận tử tù không giống nhau. Vào các buồng biệt giam, bao giờ tôi cũng được các giám thị đi kèm để bảo vệ. Thế nhưng khi đối diện với những "con thú nổi loạn" trong hình hài những con người bình thường ấy thú thực tôi rất sợ.

Tôi nhớ lần gặp tử tù Nguyễn Văn Công, một tên giết người điên cuồng và dữ dằn ở Hà Tĩnh Ban Giám thị trại rất lo cho tôi không lường hết những điều bất thường ở một tên tử tù đã tận cùng đường sống. Thế nhưng thật kỳ lạ, tử tù dù có "khát máu" đến mấy thì xét cho cùng cũng là một con người với trái tim nhân bản nguyên thuỷ. Lần gặp đó không ngờ trong đôi mắt trắng dã hoang dại của kẻ không biết tới giới hạn sống đã ánh lên tia sáng ấm áp. Rồi Công bất ngờ đọc cho tôi nghe những bài thơ lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng trong đời hắn làm. Bài thơ thay cho tiếng khóc than sám hối muộn mằn của một con người: "Anh đi đoàn tụ lòng thanh thản/ Nhìn lại phía sau đau buốt lòng/ Vợ trẻ xinh tươi, con nhỏ dại/ Cuộc đời dang dở thật đắng cay...". Những câu thơ đã theo tôi trong chặng đường dài của nghề báo cho dù bây giờ hẳn linh hồn Công đã được giải thoát trong cõi phiêu du.--PageBreak--

Người tử tù thứ hai gây cho tôi xúc động nhiều nhất đó là Và Thị Mỵ ở trại tạm giam tỉnh Lai Châu. Khi tôi vào thăm Mỵ ở trong buồng biệt giam, tôi gặp một người đàn bà đang chăm chú tỷ mẩn với từng đường kim khâu những con búp bê vải. Mỵ ngước nhìn tôi, cặp mắt đen hiền và mở to như mắt chú bê rừng long lanh nước. Mái tóc dài, dày đen như thác đổ xuống lưng óng ả. Mỵ không nói nhiều về tội của mình, Mỵ ngơ ngác trước luật pháp, trước cái chết chỉ vì một bánh hêrôin Mỵ đem đi bán dùm người ta. Mỵ chỉ than thở với tôi nỗi nhớ con quặn thắt trong trái tim người mẹ biết không còn nhiều thời gian để chờ đợi được gặp con dù chỉ một lần. Mỵ trao cho tôi những con búp bê vải Mỵ làm cho con gái của mình đến giờ tôi vẫn còn cất giữ như một kỷ vật. Mỵ nói: Tao không chờ được ngày con gái tao tới đây để nhận nó. Mày mang về cho trẻ con chơi, tao lại làm thứ khác". Người đàn bà làm búp bê đợi án tử hình đã làm cho tôi phải rơi lệ ngay trong căn phòng biệt giam ấy.

Trên đây chỉ là những câu chuyện nhỏ trong vô số những ký ức đáng nhớ của nghề báo mà chúng tôi không thể kể hết ra được. Chỉ biết rằng nghề báo như con tằm rút ruột nhả tơ. Sau mỗi một lần vắt kiệt mình trên trang viết, chúng tôi lại âm thầm tìm tòi và tích cóp. Chỉ mong mỗi một sớm mai thức dậy, chúng tôi lại viết được một cái gì đó có ích cho đời. Dẫu trong trăm ngàn cái có ích đó, bạn đọc chỉ nhớ được mỗi một lần khi đọc nó rồi lãng quên

.
.
.