Nhớ những ngày tiếp quản Thủ đô Hà Nội
Hà Nội đã lại vào thu, tháng mười nắng mật và cờ đỏ sao vàng đã lại tung bay khắp phố phường Hà Nội. Tôi ngồi trong căn nhà nhỏ nằm sâu trong hẻm rìa Hà Nội để lắng nghe hồi ức sống động của ông trong những ngày đầu tiên ấy.
Vào Công an vì yêu nước
Quê cha đất tổ ở Hưng Yên nhưng ông Nguyễn Đức Minh lại gắn bó với Hà Nội, mảnh đất sinh thành và nuôi dưỡng. Tháng 3/1946, mười lăm tuổi, Nguyễn Đức Minh đã sôi nổi tham gia hoạt động Đội Thiếu niên Tiền phong Thành Hoàng Diệu, tổ chức rải truyền đơn, tuyên truyền tham gia cách mạng, tổ chức mít tinh cổ động cho các chương trình của Việt Minh. Đội Thiếu niên Tiền phong Thành Hoàng Diệu chỉ hoạt động trong thời gian một năm cho đến khi kháng chiến toàn quốc nổ ra. Lúc này, các thành viên trong đội về địa phương nơi cư trú và hoạt động có tính chất tuyến xã. Nguyễn Đức Minh cũng trở về tích cực hoạt động ở địa bàn nơi ông ở.
Được một thời gian, gặp lại mấy anh em trong Đội Thiếu niên Tiền phong Hoàng Diệu trong đó có anh Nguyễn Văn Khâm, anh Khâm giới thiệu ông về làm việc với Công an quận 6 Hà Nội. Thế là Nguyễn Đức Minh trở thành chiến sỹ Công an. Ông nói rằng, thời đó, tất cả đều một lòng hướng về Tổ quốc, không ai bảo ai mà mỗi người đều tự chọn cho mình một công việc để giúp Tổ quốc, có lợi cho Tổ quốc thì làm.
Hồi đó, nội thành Hà Nội là vùng địch tạm chiếm, tổ Công an của anh Khâm hoạt động bí mật ngay trong nội thành do Công an quận 6 chỉ đạo mà trực tiếp là anh Ngọc Nhôm, sau này lấy tên là Xuân Hồng, năm 1977-1978 anh làm Tham tán Đại sứ quán Việt Nam ở Liên Xô. Công việc chủ yếu của lúc ấy là treo cờ, rải truyền đơn, tuyên truyền cổ động mọi người đi theo cách mạng.
Sự kiện 19-5-1948 và cái chết bi thảm của 4 đồng chí Công an
Thời gian này, có một sự kiện lịch sử khiến ông Nguyễn Đức Minh không bao giờ quên được. Chuẩn bị cho ngày sinh nhật Bác, đêm 18/5, tổ của anh Khâm, anh Nguyễn Trọng Quang, anh Nguyễn Sỹ Vân làm nhiệm vụ treo cờ lên Tháp Rùa. Khuya hôm ấy, tổ phân công anh Khâm đứng trên bờ canh gác. Anh Quang và Vân bơi ra Tháp Rùa rồi công kênh nhau lên để trèo lên đỉnh Tháp Rùa treo cờ đỏ sao vàng. Công việc thành công.
Rạng ngày 19/5/1948, người dân Thủ đô vô cùng ngạc nhiên và sung sướng tột độ khi lần đầu tiên kể từ khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội, đúng vào ngày sinh nhật Bác, lá cờ đỏ sao vàng được treo lên Tháp Rùa tung bay phấp phới trong gió mai và nắng sớm giữa lòng Thủ đô Hà Nội. Sự kiện này đã làm rúng động Hà Nội, rúng động quân Pháp.
Thành công vang dội, cấp trên yêu cầu Công an quận 6 viết báo cáo thành tích. Anh Khâm đã thay mặt anh em viết báo cáo xong, bàn giao cho anh Bình là giao liên của quận 6 mang vào nội thành đưa về cho lãnh đạo quận 6. Tối hôm đó anh Bình mang báo cáo vào nội thành, trời tối nên nghỉ lại ở Đền Lừ thì gặp anh Minh Đông và anh Trụ cũng là giao liên của nội thành ra vùng tự do. Tối đấy, cả ba người ngủ lại ở Đền Lừ. Không ngờ đến gần sáng, tên sỹ quan Phòng Nhì Tây lùn đóng ở bốt Vọng, khét tiếng gian ác, đi tuần tra đến Đền Lừ bắt gặp và bắt sống cả 3 người đem về giam giữ ở bốt Vọng, ngày hôm sau dẫn lên Sở Mật thám.
Vì tài liệu mang theo người không kịp tẩu tán, nên mật thám đã tra khảo đánh đập 3 anh rất dã man. Từ đó chúng khui ra và bắt tổ của anh Khâm trước, gồm anh Quang, anh Sỹ Vân… và một số anh em trong Công an quận 6. Cho đến cuối tháng 5, thì người cuối cùng bị vét đưa lên Sở Mật thám chính là ông Nguyễn Đức Minh. Sau khi gom hơn 10 người, chúng dẫn anh em về Phòng Nhì ở Cửa Đông tiếp tục tra tấn phúc cung.
Sau 10 ngày tra tấn dã man, không khai thác thêm được gì, chúng quyết định tống nhóm Việt Minh cứng đầu này vào Hỏa Lò. Nghe tin ngày mai đi Hỏa Lò, tối hôm đấy anh Quang không biết tìm ra đâu được phấn và vẽ lên tường phòng giam lá cờ đỏ sao vàng cùng với dòng chữ bằng tiếng Pháp: "Hồ Chủ tịch muôn năm". Sáng hôm sau, thằng lính Phòng Nhì sang nhận quân, nó nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng ở trên tường cùng với dòng khẩu hiệu, nó không đưa anh em sang Hỏa Lò nữa mà đánh cho anh em một trận tơi bời.
Cuối cùng, anh Trọng Quang phải nhận mình là tác giả của bức tranh kia. Mật thám bèn chuyển cả mấy anh em sang Hầm Đá ở Cửa Đông. Tiếp tục tra tấn 1 ngày nữa rồi hôm sau mới cho về Hỏa Lò. Ác nghiệt thay, do xác định được nhóm đầu sỏ trong việc treo cờ, vẽ cờ trên tường, bọn mật thám đã chuyển tất cả gồm 13 người về Hỏa Lò nhưng giữ lại 4 người là anh Trụ, anh Bình giao liên, anh Trọng Quang và anh Khâm.
Sau 10 ngày ở Hòa Lò, anh em tù ở bốt Phùng thuộc huyện Đan Phượng, Hà Đông, lúc bấy giờ cũng bị đưa về Hỏa Lò đã kể cho nhóm Công an quận 6 của ông Nguyễn Đức Minh đang bị giam cầm ở đấy rằng một buổi chiều ngay sau đó, bọn mật thám đã trói giật cánh khuỷu tay của 4 anh em lại rồi thả cho chạy trên cánh đồng trống không ở Đan Phượng. Chúng dàn một trung đội lính da đen đứng ở bờ ruộng và bắn chết cả 4 người đang chạy. Chúng vu cho 4 anh là bị bắn do tội trốn tù. Bấy giờ cả 4 anh em chết mất xác.
Sau này, Anh Bình, anh Trụ, anh Khâm đã được công nhận là liệt sỹ. Riêng anh Trọng Quang không một ai biết gia đình anh ở đâu để mà làm chế độ chính sách. Sau năm 1965, chủ trương của Thành ủy Hà Nội cho các gia đình tự báo công, gia đình của anh Trọng Quang đã báo có người con đi hoạt động cách mạng và bị địch bắt mất tích từ bấy đến nay nhưng gia đình lại không biết anh Trọng Quang là người của Công an quận 6. Có 2 người biết việc này là ông Nguyễn Đức Minh và ông Minh Đông thì cả hai lúc đó lại đang đi chiến đấu ở chiến trường B.
Vậy là mãi đến năm 2004, nhân kỷ niệm 50 năm giải phóng Thủ đô, Ban liên lạc mới tìm ra gia đình của anh Trọng Quang ở 12 phố Bát Đàn. Năm 2008, Bộ Công an do Thượng tướng Nguyễn Khánh Toàn đã ký đề nghị gửi Bộ LĐ-TB&XH truy tặng liệt sỹ nhưng cho đến nay chưa thấy hồi âm.--PageBreak--
Hai cuộc vượt ngục lịch sử
Sau cái chết bi thảm của 4 đồng chí, trong tâm trí của những anh em bị địch bắt lần ấy rất căm phẫn, và luôn tìm mọi cách để thoát khỏi nhà tù. Tháng 8/1948, nhóm anh em Công an quận 6 bị đày lên Khe tù ở Tiên Yên, tỉnh Hải Ninh, nay là Quảng Ninh. Đến tháng 10, ông Nguyễn Đức Minh và anh Sỹ Vân rủ nhau vượt ngục. Vì cả hai anh em trốn vào vùng dân tộc, ngôn ngữ không biết nên chỉ được vài ngày là bị lộ, bị địch đưa trở lại Khe tù và tra tấn hành hạ rất dã man.
Chúng trói cả ông Minh và anh Sỹ Vân vào hai cái cọc ngay giữa cổng vào ra của trại giam để răn đe những phạm nhân còn lại. Bị trói ở đấy, lính Pháp đi gác hoặc đổi ca trực, đi ngang qua hai người lại dùng báng súng, gậy vụt tới tấp. Sau 3 ngày trói ở cọc ngoài trời, đến ngày thứ 3 chúng thả cả hai anh em về trại. Sau trận đòn nhừ tử đó, anh Sỹ Vân không gượng dậy nổi, ốm lăn lóc đến năm 1949 thì hy sinh ở trong tù.
Còn ông Đức Minh 3 tháng sau, tháng 12/1948 anh Minh Đông rủ ông tiếp tục cuộc vượt ngục lần 2. Biết rằng vượt ngục mà không thành công, thì số phận sẽ rất bi thảm nhưng nếu cứ ở lại nơi này, rồi cũng sẽ bị đánh bị hành hạ đến chết, ông Nguyễn Đức Minh quyết định trốn tù lần hai. Thật may mắn, lần trốn này do tính toán kỹ lưỡng nên cả hai anh đã vượt ngục thành công.
Đầu năm 1949, hai ông về lại Công an Hà Nội công tác, nhận nhiệm vụ mới. Trong số những anh em công an hoạt động trong những ngày đầu giải phóng Thủ đô, có anh Phan Khắc Trình, nguyên là Trưởng ban Điệp báo lúc bấy giờ. Năm 1951, do một tên phản động từng là quân của anh Trình chạy sang hàng ngũ địch đã chỉ điểm anh Trình cho mật thám. Anh Trình bị địch bắt tra tấn dã man song anh nhất quyết không khai nên đã bị chúng hành hạ đến chết mất xác. Sau này anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Anh Nguyễn Ngọc Nhuôm bị địch bắn què chân đi khập khiễng, anh Lê Nghĩa lúc bấy giờ là Quận trưởng quận Công an nội thành, sau khi bị lộ, anh bị Pháp bắn thủng bụng lòi ruột. Pháp bắt anh Lê Nghĩa giam ở Bệnh viện Phủ Doãn, nay là Bệnh viện Việt Đức. Tại đây bác sỹ Phan Biểu Tâm, một trí thức yêu cách mạng đã cố bôi thuốc cho anh Lê Nghĩa để kéo dài bệnh tật không cho mật thám hỏi cung anh.
Sau này, chính bác sỹ đã tạo điều kiện cho tổ chức cứu anh Lê Nghĩa. Vụ cứu tù này cũng rung động Thủ đô Hà Nội lúc bấy giờ. Anh Vũ Lăng ở bên Thành đội Hà Nội đã đóng vai người của bọn mật vụ, khống chế thằng cảnh sát gác anh Lê Nghĩa vào căn phòng trói lại rồi bế ông Lê Nghĩa đưa qua tường rào bệnh viện có xe môtô chờ sẵn đem về cơ sở của anh Minh Đông. Để cứu tù lần này, bên BCHQS Hà Nội đã huy động một đơn vị bộ đội yểm trợ ở phía bên ngoài.
Tiếp quản Thủ đô Hà Nội
Sau sự kiện hiệp định Giơnevơ được ký kết vào ngày 20/7/1954, ta có 100 ngày để chuẩn bị cho việc tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Lực lượng Công an Thủ đô lúc này mỏng và thiếu. Lúc bấy giờ, Trung ương lại điều một số đồng chí ở các vị trí quan trọng để đi làm nhiệm vụ. Ông Nguyễn Tài được Trung ương rút đi tham gia Ban Liên hiệp quân sự đình chiến Trung ương đàm phán với Pháp về hiệp định Giơnevơ. Trung ương đưa anh Lê Quốc Thân nguyên là thường vụ Liên khu ủy Liên khu 3, Giám đốc Liên khu 3 về làm Giám đốc Công an Hà Nội.
Lực lượng Công an dù còn thiếu và mỏng, song anh em đã phát huy hết năng lực của mình. Khi tiếp quản Thủ đô, âm mưu của địch là di chuyển máy móc, thiết bị ở các nhà máy lớn vào Nam, với mục tiêu để lại vườn không nhà trống cho cách mạng tiếp quản. Anh em mình đã vận động công nhân biểu tình phản đối không cho di chuyển trang thiết bị máy móc của các nhà máy. Vận động một số cảnh sát ngụy không đi Nam nữa mà ở lại Thủ đô phục vụ cách mạng. Công tác vận động và đảm bảo trị an tốt của các lực lượng nên ngay ngày đầu tiên tiếp quản Thủ đô không hề xảy ra tình trạng mất điện, nước.
Lúc này, Trung ương cũng chuẩn bị lực lượng tinh nhuệ nòng cốt để về làm công tác bảo vệ chính trị, giữ gìn trật tự trị an Thủ đô Hà Nội. Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn lúc bấy giờ đã điều động một loạt cán bộ chủ chốt là Trưởng ty Công an của các tỉnh về Hà Nội làm trưởng phòng. Đưa số anh em cán bộ đang học trên các trường của Bộ về tham gia tiếp quản Thủ đô.
Trước tiếp quản Thủ đô 1 ngày, ngày 9/10/1954, một số anh em của các đội đóng vai là cảnh sát về tiếp nhận bàn giao của bọn cảnh sát Pháp ở các quận trực thuộc tòa thị chính thành phố. Còn anh em Công an ở 87 Trần Hưng Đạo lúc bấy giờ chuyên về mật vụ, bảo vệ công tác chính trị nhiều hơn.
Ở ngoại thành, lực lượng Công an cũng đã khám phá và vô hiệu hóa nhiều vụ phá hoại của địch. Phát hiện một số ngụy quân, ngụy quyền định dùng lựu đạn để ném phá hoại trong ngày tiếp quản Thủ đô. Về vụ phá hoại này, chính anh Trung Việt là Quận phó của Công an quận ngoại thành phát hiện và tiến hành vô hiệu hóa. Còn ở trong nội thành, chị Tống Thị Hòa cũng đã phát hiện ra một số hoạt động của bọn phản động và phá tan âm mưu của địch.
Ông Nguyễn Đức Minh nhớ lại, hồi đó, ông ở trong đơn vị chấp pháp thuộc Phòng Bảo vệ chính trị mà ông Hoàng Thao là Trưởng phòng, về trực tiếp tiếp quản nhà tù Hỏa Lò. Ông Nguyễn Đức Minh kể rằng, theo lời của ông Nguyễn Tài thì khi tiếp quản Thủ đô Hà Nội, có hai nơi địch không bàn giao bằng văn bản cho ta mà ta tự động tiến vào và tiếp quản, đó là Nhà tù Hỏa Lò và Trụ sở của Cảnh sát Bắc Việt ở 87 Trần Hưng Đạo. Còn các quận khác đều có văn bản bàn giao tiếp nhận đầy đủ. Việc tiếp quản Thủ đô trong ngày 10/10/1954 đã diễn ra trong sự bảo vệ an toàn tuyệt đối.
Giờ đây, mỗi lần Hà Nội vào thu, khi nắng tháng 10 rót mật xuống không gian phố phường Hà Nội, ông Nguyễn Đức Minh lại nhớ về những năm tháng không thể nào quên ấy. Bạn bè đồng chí, đồng đội xưa của ông, người mất nhiều hơn người còn, nhưng dịp này hằng năm, chuẩn bị cho lễ kỷ niệm giải phóng Thủ đô, họ lại chống gậy tới nhà nhau, chỉ để ôn lại những kỷ niệm cũ trong một tâm thế rưng rưng xúc động
