Nhớ lần hầu chuyện Đại lão Thư pháp Thanh Hoằng Khê

Thứ Hai, 14/01/2008, 07:35
Thế là từ mùa xuân này, người Hà Nội và giới chữ nghĩa không còn được ngắm ông đồ Lê Xuân Hòa ngồi cho chữ ở Văn Miếu nữa rồi. Tiễn "người muôn năm cũ", tôi lại nhớ dịp này năm trước, lần thăm ông có lẽ cuối cùng ấy, tôi được hầu chuyện người được phong là Đại lão Thư pháp Việt Nam...

Chuyện chữ nghĩa

Dịp này năm ngoái, tôi tìm thăm cụ ở ngõ Gốc Đề, phố Minh Khai, nơi xưa gọi là Trại Găng thuộc vùng Kẻ Mơ... Sau lần mổ tim vài năm trước, sức khỏe cụ có giảm đi nhưng phong thái và sức nói chuyện của nhà thư pháp tuổi ngoại cửu tuần vẫn còn hào sảng. Cụ dành thời gian nói về chữ và từ đó nói đến đạo. Đạo làm người, đạo làm quan, làm dân...

Câu chuyện chiều cuối năm chừng không dứt về chữ nghĩa, về thư pháp của cụ đã cuốn hút tôi... Cụ bảo: Ở Việt Nam, thư pháp đến gần như cùng lúc với chữ Hán. Bao nhiêu bi ký là bấy nhiêu cách viết của bấy nhiêu tác giả. Chế độ khoa cử cáo chung cũng là lúc chữ Hán Nôm lui vào phía sau. Thư pháp Hán Nôm cũng cùng chung hoàn cảnh ấy để "Giấy đỏ buồn không thắm/ Mực đọng trong nghiên sầu".

Sự đưa đẩy của chiếc bút lông với những nét đậm nhạt, mảnh hay to, với sự biến hóa của màu mực như là tình cảm mỗi lúc biến đổi của người viết trong tâm thái, tế nhị hay dữ dằn bạo liệt... Tất cả hiện cả lên nét bút. Kể chuyện thi thư, cụ bảo: Thế gian không mấy người được xem là tuyệt bút.

Từ đời Tống ở Trung Hoa đến bây giờ lối viết thịnh hành là thể hành thư. Hàng nghìn năm nay, giới thư pháp đều coi Lan Đình Tự (viết ở Lan Đình) của Vương Chi Hy là "thiên hạ đệ nhất hành thư" và bức "Tiết điệt cảo" (Bài văn khóc cháu) của Nhan Châu Khanh là "Đệ nhị thiên hạ hành thư".

"Lan Đình thư" là kiệt tác được viết trong hoàn cảnh thăng hoa, giữa cảnh núi sông hùng vĩ, bốn mươi danh hội lại uống rượu ngâm thơ. Vương Chi Hy cao hứng đề tựa tập thơ chuyển khoái cảm tinh thần ngây ngất thành cảm hứng để ngọn bút ông đem lại thành công bất hủ mà về sau, dù có chép lại mấy mươi lần nhưng không bao giờ được như lần đầu. Một người nét chữ bay bướm, một nhà nét chữ rắn rỏi mạnh mẽ.

Đó cũng là hai trường phái thư pháp lớn về sau. Nghệ thuật thư pháp thường gắn với họa. Vì thế nét chữ dùng thể thảo đôi khi "bay" ra khỏi quy tắc thông thường, rất khó đọc nên muốn đọc nó phải có một kỹ năng họa và thảo để coi nét bút đoán được thần thái chữ. Chữ thảo mà là thảo "cuồng" thì cực kỳ khó đọc, nhưng nếu biết "xem", nó cuốn hút diệu kỳ và khi đã mê đắm rồi thì phát hiện ra nội dung, tư tưởng.

Chữ thảo là sự phá cách ngẫu hứng nhất nhưng lại nằm trong một nguyên tắc là phải đọc được. Thảo thư chứa trong nó sự tìm tòi nghệ thuật. Nét bút tài hoa nhưng kết cấu thế nào, bố cục biến hóa ra sao... Ma lực của thảo thư là cuốn hút dù có khi người ta không thể đọc hết, không bắt được sự kỳ diệu thâm trầm của tác phẩm. Người ta mê nó trước hết vì cái đẹp của sự duyên dáng mang cốt cách tâm hồn tác giả...

Câu chuyện chữ nghĩa vào buổi chiều cuối năm như càng đi vào chiều sâu, cụ diễn giải về thư pháp say sưa quá khiến tôi không thể không ở thêm. Cụ bảo: Thư pháp được xem là một loại hình nghệ thuật đặc sắc. Thư pháp gia cũng được sánh ngang hoặc thậm chí trên cả họa gia.

Phải là người tài hoa, có vốn liếng Nho học, lại phải khổ luyện mới đạt đến cái "thần" trong khi cầm bút. Chữ từ ấy có hồn và trong nét bút có cốt cách con người. Học thư pháp chính là học cái đạo trong chữ. Một bức thư pháp đôi khi như một bức tranh. Nó có cái vô biên của không gian, cái cảm xúc run rẩy của nhà thư họa gửi đầu ngọn bút lông...

Thư pháp là dùng cái mỹ của chữ viết ra từ ngọn bút để thể hiện cái chân, cái thiện của tư tưởng, cái đẹp của tâm hồn. Đến một ngày, hình như người ta bừng tỉnh trước sự thiếu vắng của chữ nghĩa. Và chuyện chơi chữ, học nghĩa đã manh nha trở lại nhưng đã thấy nhạt nhạt. Người văn hay chữ tốt lần lượt bỏ đi hết, thưa vắng quá...

Cụ lại bảo: "Giờ có lắm người chơi, nhưng họ không hiểu cái thần, cái hồn của chữ và nghĩa thì càng buồn". Sinh thời Vũ Đình Liên coi cụ Hòa như anh trai và nhận làm con nuôi gia đình. "Mỗi bận sang nhà, Liên đều đến bên bàn thờ lạy cha tôi như lệ cũ. Ông Liên mất mấy năm rồi, tôi thấy trống vắng quá".

Bạn kết duyên chữ nghĩa với cụ còn có Khương Hữu Dụng, hay như luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, nay kẻ còn người mất. Người có tài hoa thể hiện khi viết chữ còn quá ít. Giới chữ nghĩa buồn vì không còn một thú chơi, một nghệ thuật sang trọng của chữ nghĩa.

Thế rồi đến một ngày, vốn cũ được người ta ưa chuộng. Giới văn hóa Hà Nội đã bắt đầu quen với cái thú thưởng chữ trong các cuộc trưng bày giao lưu thư pháp, lại  được xem nhà thư họa Lê Xuân Hòa ngồi sân Văn Miếu cho chữ. Cụ ngồi đó quắc thước, nhưng điệu bộ hiền hậu, tựa tiên ông nho nhã. Thật xúc động khi thấy cụ già ngoài 90 xuân, tay đưa ngọn bút uyển chuyển, nét bút tựa phượng múa rồng bay trên tờ giấy lớn.

Chuyện cuộc đời

Kể tôi nghe về cuộc đời lắm nỗi trầm luân của mình, nhà thư pháp có vẻ có chút ngậm ngùi: "Lên sáu tuổi, tôi bắt đầu học chữ Nho do cha dạy. Cha tôi, một ông đồ đỗ Tú tài liền hai khóa, sống dạy học ở quê gọi là Tú kép Lê Duy Bá. Ông quen biết nhiều văn hào thân sĩ và nặng lòng với đất nước, vì thế năm 14 tuổi đang theo học trường Tây, tôi bị cha bắt về nhà học chữ Nho. Cha tôi gọi tôi về bảo: Con cố gắng học thêm chữ Nho, đặng giữ thân giúp đời, chứ học chữ Tây không khéo lại đi làm tay sai cho giặc"...

Vốn dòng dõi văn thân, ông nội cũng là cử tú và ngược về trước thì cụ là hậu duệ vua Lê Dụ Tông. Lớn lên khi cách mạng bùng nổ, người thanh niên Nho học Lê Xuân Hoà lao vào con đường hoạt động sôi nổi như bao thanh niên khác cùng thời. Cách mạng Tháng Tám thành công, cụ được cử làm Chủ tịch Liên Việt huyện, rồi Hội thẩm nhân dân... Suốt những năm kháng chiến chống Pháp, cụ cống hiến trọn vẹn, nhưng hòa bình về gặp buổi vận nhà suy, khiến cụ bỏ quê đưa vợ và 6 đứa con ra Hà Nội làm nghề kéo xe nuôi nhau...

"Vốn là anh đồ nghèo lỡ vận, tôi tìm một chỗ ở hẻo lánh ở dốc Thọ Lão thuê trọ tháng hết 1 đồng, tuy ẩm thấp dột nát nhưng như vậy mới đủ tiền trang trải cả gia đình. Có người đến rủ vào Nam theo Chúa nhưng tôi đã từ chối thẳng. Không gì mình đã có mười năm kháng chiến, làm sao dễ giũ bỏ, đành quyết định ở lại Hà Nội và bắt đầu một cuộc đời khác. Vốn có ít chữ nghĩa, tôi được vào làm kế toán rồi cán bộ nhân sự ở Ty Giao thông.

Sáu mươi tuổi về hưu mới có điều kiện ôn luyện chữ nghĩa đặng giúp đời. Quý chữ nghĩa tôi, các vị Viện Hán Nôm, Viện Khoa học xã hội mời ra làm việc. Cụ Hoa Bằng, cụ Trần Huy Ngôn, cụ Nguyễn Đổng Chi mời cộng tác nên đỡ tủi cho thân phận chữ nghĩa... Vui lắm chứ! Thứ ông đồ... cũ như tôi mà lại được trọng dụng thì vui thật. Thường viết chữ và cho chữ mà dần dà nhiều người biết tiếng tìm đến tôi. Đến khi có chữ triển lãm ở Văn Miếu thì nhiều nhà lãnh đạo và học giả biết và hỏi thăm. Họ đều tỏ lòng mến yêu…

Không ngờ nhờ chữ nghĩa mà sau này đời tôi có một vị thế khác. Có lần người bạn tôi là họa sĩ Lương Xuân Nhị mời triển lãm ở TP Hồ Chí Minh. Lần ấy treo chữ ở quận 5, nhiều người xem và ngợi ca tài viết của tôi. Nhà văn hóa quận không lấy tiền thuê địa điểm mà còn tặng thêm những 5 triệu đồng...". 

Cụ kể rằng, cụ từng có bức đại tự được tham dự tại Triển lãm Thư họa Bắc Kinh. Tác giả được tặng Bằng khen của Ban tổ chức, trong khi cuộc triển lãm ấy có cả ngàn thí sinh nhiều nước tham gia... Nhiều người mến tài đến xin chữ rồi tặng lại tiền. Nhờ thế mà cụ có thêm chút ít. Có lần triển lãm về được mấy triệu đồng, cụ nhờ chính quyền địa phương đóng góp từ thiện giúp đỡ người khó khăn...

Chín mươi tuổi có dư mà bút lực cụ vẫn khỏe khoắn, khoáng đạt lạ lùng, chứng tỏ nghệ thuật dùng bút lông - mực nho của cụ đã ở hàng điêu luyện. Nhớ buổi chiều năm ngoái không hiểu sao tôi thật lưu luyến khi chia tay nhà Thư pháp. Lúc tôi cáo từ ra về, cụ còn gọi lại rồi lấy bút nghiên mài mực viết tặng tôi chữ Tâm có lời đề tặng và dấu lạc khoản. Cụ còn ghi mấy dòng thơ tặng tôi vào cuốn sổ mà cụ bảo đó là những câu thơ như một tuyên ngôn về cách sống, lẽ sống của đời mình:

Đã hứa cuộc đời cho sự nghiệp/ Ngại gì mái tóc nhuộm phong sương/ Giữ gìn trong dạ câu nhân nghĩa/ Gác bỏ ngoài tai chuyện đảo điên...

Tôi định Tết này lại vào thăm cụ nhưng chưa kịp thì cụ đã đi xa. Nhà đại lão thư pháp có phong độ như một bậc hiền triết, một ông tiên đã vĩnh biệt chúng ta. Cho tôi được đọc lại một câu tặng cụ, thay lời tiễn biệt: Chữ người muôn năm cũ/ Tìm ở đâu bây giờ?

Tân Linh
.
.
.