Nhạc sỹ Trịnh Công Sơn trên công trường
Sau chuyến đi thực tế công trường đại thủy nông Nam Thạch Hãn trở về, Trịnh Công Sơn đã viết bài bút ký "Nam Thạch Hãn những ngày đầu tháng ba" (Văn nghệ Bình Trị Thiên, số 9, tháng 7/1978), một bài bút ký tươi tắn chất thơ, chất nhạc và đậm đà suy tưởng, triết lý.
Sau ngày đất nước thống nhất, "cho dân ta bừng lớn trong tự do", cho thỏa ước nguyện cháy lòng của mẹ Việt Nam "được dâng miếng cau rồi dâng ngọn trầu", cho Huế - Sài Gòn - Hà Nội "trùng phùng lòng thấy nao nao", nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã hăm hở nhập cuộc với nhịp sống mới bằng tất cả trách nhiệm công dân Da Vàng và thiên chức dấn thân của người nghệ sĩ, nhập cuộc cả trong đời và trong nghệ thuật, khỏi phải cần đến một sự "lột xác" hay "nhận đường" nào cả.
Bút ký "Hai người qua sông Thạch Hãn" của Hoàng Phủ Ngọc Tường đã kể lại chuyện Trịnh Công Sơn cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường đi lao động tự nguyện trên công trường đường sắt thống nhất tại thị xã Quảng Trị, đoạn qua cầu Thạch Hãn, hai người đã khuân gạch vữa dưới chân Thành cổ để lát trên đường sắt và rải đá giữa những thanh tà vẹt, bằng sức mạnh của niềm cảm khái trước khát vọng thống nhất đất nước đã thành. Và rồi địa danh Thạch Hãn là nỗi thao thức để Trịnh Công Sơn trở đi trở lại, để sau chuyến đi thực tế công trường đại thủy nông Nam Thạch Hãn trở về, Trịnh Công Sơn đã viết bài bút ký "Nam Thạch Hãn những ngày đầu tháng ba" (Văn nghệ Bình Trị Thiên, số 9, tháng 7/1978), một bài bút ký tươi tắn chất thơ, chất nhạc và đậm đà suy tưởng, triết lý.
"Nam Thạch Hãn những ngày đầu tháng ba" của Trịnh Công Sơn đã diễn tả sống động khí thế ra quân rộn rã, tưng bừng trên công trường Nam Thạch Hãn trong hai ngày 3 và 4/3/1978. Với tài thẩm âm thiên phú trác tuyệt, nhạc sĩ đã nghe ra cả công trường đại thuỷ nông "như một làn nhạc chuyển điệu không ngừng, và cứ thế cái tiết tấu chung chuyển từ công trường này qua công trường khác". Trịnh Công Sơn đã cảm nhận không khí công trường bằng hồn nhạc giàu có của mình hay chính nhạc điệu công trường đã xôn xao phả vào trang văn Trịnh Công Sơn, có lẽ cả hai: "Đầm đôi, đầm đơn rập ràng nện chặt bờ đập mới nhú. Tiếng đập nhịp nhàng đến độ muốn khơi dậy một tiếng hò nện đã quen. Nước ứa ra đoạn thấp của con kênh dự trù. Một tốp nữ tát nước ra ngoài, đều tay như múa. Hiện trường bỗng chốc mang cái khí hậu của một sân khấu rộng rãi ngoài trời, màu đất đỏ non tươi làm nền cho một đại vũ khúc mang tên "công trình đại thủy nông Nam Thạch Hãn".
Trong vũ điệu đó, nổi lên vẻ đẹp khỏe khoắn rạng rỡ của những người phụ nữ. Người viết tình ca hay nhất thế kỷ hai mươi của Việt Nam đã quen dùng màu nắng, màu hồng đào để tả đôi môi thiếu nữ: "Nắng có hồng bằng đôi môi em", "Một cuộc tình nhỏ bé bên đôi môi hồng đào", bỗng thay lối tả độc đáo cũ bằng lối tả mới mẻ: "Màu non tươi của đất đỏ đã về đậu trên môi, má của đội nữ gánh đất".
Điều đặc biệt, đằng sau việc thay đổi lối tả là sự đổi mới nếp nghĩ, nếp tư duy. Trước đây, trong dòng nhạc trĩu buồn về thân phận con người của Trịnh Công Sơn, hình ảnh kiếp người chẳng khác gì hòn đá trong tay chàng Sisyphe khổ sai lăn hoài công trên núi mà chẳng bao giờ đến đỉnh dốc trong cuốn tiểu thuyết "Huyền thoại Sisyphe" của nhà văn hiện sinh Albert Camus: "Người chợt nhớ mình như đá lăn vết lăn buồn" (Vết lăn trầm). Hình ảnh "hiện hữu phi lý" (nói theo cách của ngôn ngữ hiện sinh) này của phương Tây cũng giống như hình ảnh dã tràng xe cát ở ta, và chính Trịnh Công Sơn hồi học ở Trường Sư phạm Quy Nhơn đã từng viết nên một bài ca dài về niềm đau vô vọng của thân phận con người, đó là trường ca "Tiếng hát dã tràng".
Từ ngôn từ buồn bã về cảnh cũ, đá lăn cũ, Trịnh Công Sơn đã chuyển sang ngôn từ hân hoan mới về cảnh gánh đất trên công trường Nam Thạch Hãn: "Đội nữ gánh từ đồi cao lao xuống nhanh như những cánh hải âu vụt xuống mặt sông", "đoàn quân chân đất khuôn mặt hiền từ nhưng thách đố. Mỗi bàn chân có năm ngón. Mười ngón bám chặt mặt đất như những câu móc bằng thép nguội. Không gì gỡ ra nổi. Những bàn chân bỗng chốc dạy cho tôi biết vì sao mặt đất quê hương này không bao giờ mất được. Những ngón chân rễ cây đại ngàn đã cắm sâu vào lòng đất nước".
Không chỉ diễn tả khí thế náo nức công trường bằng lối tả từ xa đến gần, bằng lối nhìn đặc tả, cận cảnh, "Nam Thạch Hãn những ngày tháng ba" còn triển khai một tầm nhìn trên bình diện rộng và mở rộng "trường liên tưởng" về những năm tháng đánh Mỹ hào hùng, để từ đó phản ánh, phân tích sâu sắc và đầy cảm khái về "quyết tâm dời non lấp biển của dân tộc ta".
Nghe điệu nhạc bài "Quảng Bình quê ta ơi" nổi lên từ chiếc loa bắc trên công trường, Trịnh Công Sơn ngẫm nghĩ và dường như lý giải cho cả câu "Tại sao Việt Nam?" mà phương Tây hằng kinh ngạc: "Nếu ai hỏi vì sao...? Đã nhiều câu hỏi như thế mọc lên cùng với nỗi ngạc nhiên của nhân loại trong thời kỳ bom đạn Mỹ rải thảm nơi này. Trong mỗi tấc đều chằng chịt vết thương. Thiên nhiên cùng xóm làng đều nằm rạp xuống thành mặt phẳng, chỉ có con người đã bền vững đứng lên. Những con người ấy hôm nay lại có mặt ở nơi này để lao vào trận mới. Nếu ai hỏi vì sao? Có lẽ chẳng phải hỏi gì nhiều mà chỉ thử cố gắng có mặt ở những giờ phút này thì sẽ hiểu vì sao".
Dòng bút ký chuyển sang dòng triết lý thấm đẫm, vốn là một thế mạnh trác việt của ca từ, ngôn ngữ Trịnh Công Sơn: "Điểm đáng nói ở những công trường này, hoặc những công trình khác trên khắp đất nước, không chỉ là sự lợi ích đa dạng của con kênh về mặt thủy lợi, thông điện, thủy sản, lâm sản v.v... mà qua những công trường ấy, chúng ta dễ nhận ra cái triết lý sâu sắc của những sức người bền bỉ. Trong chiến tranh, dân ta ăn môn vót trên rừng để triết lý với giặc bằng cây súng. Giữa mùa xây dựng này cũng những con người ấy triết lý với đồi cao, với đất cứng bằng cái cuốc, cái đầm. Một thứ triết lý đơn giản mà đáng kính, đáng yêu biết bao để làm nên sự sống".
Có một câu hỏi vẳng lên như một niềm trở trăn ngọt ngào: Tại sao trong những năm đất nước quá khó khăn, không ít người bỏ nước ra đi, Trịnh Công Sơn vẫn nhập cuộc với nhịp sống mới một cách bén nhạy và hăm hở, nồng nàn? Câu trả lời được tìm thấy trong bài viết "Nhớ lại" của chính Trịnh Công Sơn đăng trên Báo Sài Gòn giải phóng ngày 30/4/1993, viết nhân kỷ niệm 18 năm thống nhất đất nước: "Tôi đi trồng và gặt lúa. Tôi đi trồng khoai sắn ở Cồn Tiên, trên bãi đất chằng chịt mìn có thể nổ bất cứ lúc nào ở cửa ngõ Trường Sơn... Tôi xếp hàng mua từng điếu thuốc hạng tồi. Tôi lãnh hàng tháng một lóng tay thịt mỡ không đủ cho một con mèo ăn. Và cứ thế nhiều năm mù mịt. Nhưng có hề gì đâu, vì trên tất cả những vụn vặt, nhiễu nhương đó là Hà Nội, Huế, Sài Gòn. Là tình yêu chan chứa, là những mặn nồng mà cả một cuộc đời ngày trước chưa bao giờ được trao tặng một cách rộn rã, đậm đà và lộng lẫy đến như vậy".
Câu trả lời được tìm thấy trong hồn yêu nước bẩm sinh, trong tinh thần dân tộc son sắt của Trịnh Công Sơn...
