Nhà văn, nhà báo đi Trường Sa

Thứ Sáu, 23/06/2006, 08:35

Đã là nhà văn - nhà báo Quân đội chẳng chóng thì chầy, chẳng trước thì sau, hầu như tất cả đều lần lượt đi Trường Sa, và có người đi tới 5,6 lần. Nghề và nghiệp. Cuộc đời và tác phẩm. Đi và viết… Thôi thúc. Giục giã. Lên đường. Trường Sa xa mà gần là một điểm đến của các nhà văn – nhà báo Quân đội.

Cho đến bây giờ, mọi người đều phải công nhận nhà văn - nhà báo Duy Khán là người đầu tiên của Tạp chí Văn nghệ Quân đội đi Trường Sa. Chuyện về ông Duy Khán nhiều khi thật hư, hư thật không biết đâu mà lần rồi trở thành giai thoại lúc nào không hay.

Nhà văn Quân đội đầu tiên đến Trường Sa

Tháng 5/1977, ông Duy Khán đi Trường Sa. Ngày ấy, các đảo còn hoang sơ lắm, phân chim lâu ngày tích lại có chỗ dày tới hàng mét. Các loài chim nhiều vô kể, thân thiện gần gũi với lính lắm, chim đậu lên vai người, người âu yếm, nâng niu, chở che chứ chim không thưa thớt vắng bóng như bây giờ. Và vòi rồng thì bất cứ lúc nào cũng có thể nhìn thấy, nếu “chạm trán” nó ngay trên biển có mà toi. Vòi rồng ở Trường Sa là hiện tượng gió xoáy cuốn nước lên, dựng đứng thành cột nước và cứ lững lững đi trên mặt biển.

Có câu chuyện này chẳng biết hư hay thực: Cái vòi rồng dựng cột nước trên biển chán chê mê mỏi, nó liền đáp lên đảo. Thế là đất cát, củi khô, lá cây bị cuốn lên không trung. Chưa đã, nó cuốn cả nồi niêu, xong chảo của anh nuôi, mũ cối, balô, chăn màn, quần áo của bộ đội... lên tầng cao, rồi lần lượt đến dao phay, thớt gỗ nghiến, tôn xám, tấm lợp bay rợp trời.

Nhà văn - nhà báo Duy Khán người nhỏ thó, khô khẳng, mỏng, nhẹ chỉ 39 cân nên nó cũng hút ông vọt lên giời, nó cuốn ông tối tăm mặt mũi, nhào lộn như một cái... lá cây. Lính đảo to con, vâm váp như những chú gấu vừa trốn tránh vòi rồng vừa lo sợ cho “bố” Duy Khán đang bay lượn như Tôn Ngộ Không, và cầu mong ông tai qua nạn khỏi.

Một lúc sau, vòi rồng đi ra biển. Trời quang, mây tạnh, nắng hừng lên rực rỡ, lính ta đâm bổ đi tìm thì thấy “bố” Duy Khán đang ngồi như tượng gỗ bên bờ biển. Té ra, ông vẫn chưa hết nỗi kinh hoàng vì cuộc viếng thăm Ngọc Hoàng không thành. Vòi rồng vần vò tung hứng nhà báo rồi ném phịch ông xuống bờ cát. Điều lạ kỳ là người ông vẫn lành lặn y nguyên, không hề sất síu; duy chỉ đôi mắt hơi kèm nhèm, không hiểu vì tuổi cao sức yếu hay vì gió xoáy tung đất cát vào “cửa sổ tâm hồn”.

Lính giữ đảo, mà lại giữ đảo chìm thì trông ra chung quanh chỉ thấy bốn bề nước trắng là nước trắng. Buồn. Nhớ nhà. Nhớ đất liền lắm. Lúc tàu ra, cả đảo vui mừng y như ngày hội. Tất cả “người đất liền” không chỉ là đồng đội mà còn là thượng khách. Đồ ăn thức uống trên đảo có thứ gì quý nhất đều đưa ra thết đãi chân tình.

Thực ra đồ ăn ở đảo cũng không nhiều, quanh đi quẩn lại vẫn thịt hộp, cả tháng hiếm hoi được bữa ăn rau muống, rau cải trồng theo kiểu “vườn treo Babilon”. Cả năm may ra lính ta được vài bữa thịt chó tươi, ấy là các đảo nổi nuôi được, chứ đảo chìm thì lính ta thưởng thức món mộc tồn ấy chỉ trong tưởng tượng.

Ông Duy Khán cũng là thượng khách và được những người lính chỉ đáng tuổi con “thết đãi” thịt hộp và thêm chai rượu ngâm thuốc của đảo trưởng. Duy Khán là người hay rượu. Tất nhiên là hay uống chứ uống không được nhiều và rất hay say. Hôm đó, đảo trưởng giao hẹn với nhà báo Duy Khán rằng: "Bố phải “bắc cạn” hết mình thì chúng con mới kể chuyện người, chuyện chim,  chuyện vích, chuyện biển, chuyện đảo, chuyện giời, chuyện san hô... cho bố viết báo viết văn”.

Chủ nhật - ngày nghỉ, tình càng nồng, rượu càng say. Rượu ngon, bạn hiền lại được cả tư liệu tươi roi rói như mớ tôm đầu chợ nhảy tanh tách nên nhà báo Duy Khán mừng khôn tả. Ông xỉn lúc nào không hay và ngủ li bì. Lính ta trẻ trung, được nết ăn nết ngủ, vô tư nhưng khi chia tay “người đất liền” thì cảm động phát khóc nên lúc tàu rời đảo rồi mà quên đánh thức “bố” Duy Khán dậy. Ông tỉnh giấc thì tàu đã đi xa lắm rồi, không còn khả năng liên lạc gọi tàu quay trở lại nữa.

Duy Khán bất đắc dĩ trở thành người lính ngoài biên chế, người lính danh dự của đảo. Và ông vừa viết văn viết báo lại làm cả nhiệm vụ của một người lính: đi đều đi nghiêm, tập thể dục sáng (cái món này ông rất ngại), tập bắn súng, tưới rau, chăn nuôi lợn và giúp anh nuôi nấu bếp. Nhiệm vụ nào ông cũng hoàn thành. Ông ở lại đảo 6 tháng, sau đó tàu ra Trường Sa thì ông mới chia tay những người lính giữ biển về đất liền.

Chuyện không biết thật hư thế nào, nghe như huyền thoại. Nhà phê bình Ngô Vĩnh Bình ở cùng cơ quan còn quả quyết với tôi rằng: Sau 6 tháng “bị bỏ quên” ở lại Trường Sa (tình huống này rất khó xảy ra, không thể xảy ra), nhà văn - nhà báo Duy Khán đã kịp viết được 1 tập truyện mang tên Biển thức rất đặc sắc. Tác phẩm này bị thất lạc, hiện nay vô tăm tích do một biên tập viên của một nhà xuất bản đơn giản, tắc trách nên bạn đọc không còn dịp nào nhìn thấy “viên ngọc quý” ấy nữa. Nhưng thiên bút ký Một ngày ở Trường Sơn của Duy Khán in trên Tạp chí VNQĐ thì rất sinh động.

Văn công hát phục vụ bộ đội trên đảo Đá Tây.

Có một cách đi thực tế Trường Sa

Tôi đọc phóng sự Hành trình thuận chiều của nhà văn - nhà báo Khuất Quang Thụy một cách nhẩn nha, nghiêm túc và nghĩ ngợi. Ông có kể về chuyện tàu chở hàng trong đó có một con bò để bộ đội Trường Sa ăn tết. Do bão gió tàu đi chậm hơn bình thường, do tàu đi hơi chệch hướng nên đoạn đường kéo dài ra, do tình hình trên biển Đông lúc đó có nhiều phức tạp nên vừa chạy vừa tránh đối phương và cả do công tác chuẩn bị cỏ khô cho bò hơi chủ quan nên bò thiếu thức ăn.

Nguy cơ chú bò chết đói đã nhãn tiền, lính ta bèn lấy thùng cáctông đựng mì tôm, đựng hàng ra cho bò ăn. Lúc đầu chú ta chê, sau đói bụng nên không từ, cáctông bò cũng nhá. Sau, bìa cáctông cũng không còn, lính ta bảo: Người ăn được cơm, lý gì bò không ăn được. Vậy là, trên tàu thêm một suất ăn. Nhưng bò chưa kịp ăn thì đã khuỵu xuống giãy chết.

Ông Khuất Quang Thụy viết: "Con bò ứa nước mắt. Nhìn thương lắm". Đọc phóng sự, có cảm giác như ông đang hành quân trên biển, ông đang gặp gỡ chuyện trò cùng người lính trên quần đảo Trường Sa. Nhưng mà không, ông chưa hề đặt chân trên đảo Trường Sa, ông và nhà phê bình Hồng Diệu chỉ đi tàu Sông Thao từ Hải Phòng vào Nha Trang để chờ ngày chính thức đi Trường Sa thôi.

Những ngày trên tàu, gặp chính các thủy thủ tàu 701 ngày trước đã phóng thẳng tàu lên đảo Đá Lớn và cho tàu mắc cạn thành công sự chiến đấu, thành pháo đài kiên cố để chống lại thế lực nước ngoài đang quây lại chiếm đảo. Và trong khi chờ ra Trường Sa, hai ông đã kịp sống thời chiến trận cùng với những người lính giữ đảo nên Khuất Quang Thụy cho ra đời phóng sự Hành trình thuận chiều, còn Hồng Diệu cũng hoàn thành Trường Sa tùy bút.

Hóa ra, dạo ấy chiến sự trên biển căng lắm nên Đoàn công tác chỉ dám cho hai nhà quay phim quân đội ra Trường Sa, còn các nhà văn - nhà báo dù đã vượt hàng ngàn cây số, ăn chực nằm chờ, chờ ngày lên tàu cũng phải ở lại. Hóa ra, có vô vàn cách tiếp cận cuộc sống; không ra Trường Sa mà viết hay hơn, thật hơn cả một số người từng có mặt ở Trường Sa; chỉ có thể lý giải do tài năng, do tình cảm chân thành, nồng nhiệt với người lính nơi đầu sóng ngọn gió, nơi hòn tên mũi đạn nên cảm xúc thăng hoa.

Đoạn phóng sự người lính quả cảm tự đánh đắm tàu thành pháo đài chiến đấu; đoạn phóng sự lính công binh chở đất cát, sắt đá ra đảo; đoạn phóng sự tưởng niệm 74 người lính giữ đảo bị hy sinh như các  trường đoạn phim rất hoành tráng, cảm động...

Nhà báo... đi thực tế Trường Sa, như nhà văn Khuất Quang Thụy, như nhà phê bình Hồng Diệu, có lẽ cả nước ta chỉ có một chuyến như thế? Họ đã đi Trường Sa theo cách riêng của mình.--PageBreak--

Đắm mình vào biển cả Trường Sa... để viết

Nhà văn - nhà báo Chu Lai luôn luôn tự hào rằng, ông bơi giỏi nhất Hội Nhà văn, bơi giỏi nhất Hội Nhà báo Việt Nam. Tài bơi của ông ngang ngửa cụ Yết Kiêu ngụp lặn đục thuyền quân Nguyên ngày xưa. Chu Lai từng biểu diễn để khoe tài lạ cho cả tàu xem bằng cách hai bàn tay đan vào nhau gối đầu, nằm ngửa trên mặt biển, không chìm. Ấy vậy, mà ra Trường Sa ông cũng bất lực trước biển cả. “Chu Lai trận mạc”: Cởi trần. “Chu Lai thời bình”: Vai vươn. Bụng thót. Ngực vồng. “Chu Lai lãng mạn”: Đứng trên mũi tàu Titan. Ngửa mặt nhìn trời xanh. “Chu Lai biển cả”: Vuốt vuốt mái tóc xoăn xoăn. Lấy đà. Vọt xuống đại dương. Nhằm  hướng đảo nhỏ bơi...

Nhưng, Chu Lai ơi hỡi nhà văn! Cái thời trai trẻ trận mạc vừa nhìn bắp chân trần cô gái giao liên vừa hành quân; cái thời đặc công thủy vận quần cộc, đeo dao găm mò địch ở vùng ven... đã qua lâu rồi. Đại dương mênh mông mà nhà văn Chu Lai cứ ngỡ bể bơi Tăng Bạt Hổ, ông đã bơi vào vùng nước quẩn, bị dạt ra, không bơi vào đảo được. Rồi vì tuổi cao, sức giảm, nhà văn của chúng ta bị biển cả nhấn chìm xuống chín thước sâu. May mà có lính đảo đi xuồng và mặc bộ đồ nhái nhảy xuống vớt...

Lại có chuyện này: các đoàn công tác đi Trường Sa, bao giờ cũng có văn công đi cùng. Chu Lai là người bạo miệng, nói năng lúc khúc chiết khi tình cảm vô tư, hồn nhiên nữa. Ấy vậy mà ông mê hoặc con gái hay con gái hút hồn ông, chẳng biết xảy ra ở khả năng nào? Chỉ biết rằng, trong Đoàn văn công có một nữ ca sĩ da trắng nõn, trẻ, xinh, hai lúm đồng tiền như hai xoáy nước, rất thích nói chuyện với nhà văn và ngược lại nhà văn cũng rất mê cái duyên nàng.

Mỗi ngày đi đường là một kho chuyện, mười ngày lênh đênh trên biển là mười kho chuyện đầy ắp, trừ lúc phải biểu diễn, lúc lấy tư liệu là họ lại bên nhau. Chu Lai bảo: “Chuyện trò tình cảm trong sáng lắm”. Thì nói zậy biết zậy, chứ ai nghi ngờ mà đã vội thanh minh là “trong sáng”. Thăng hoa. Lời nói có cánh. Nồng nã. Có chiều đắm say. Chuyện lan man sang: Em thích màu gì? Nhà ở chỗ nào? Bố mẹ làm nghề gì? Và nhà văn có mái tóc xoăn chợt giật thót tim vì phát hiện ra mình đang nói chuyện nồng nã với... con gái một người bạn chiến trận, mà lâu ngày chưa đến nhà nhau chơi.

Cuộc này tạm dừng, nhà văn Chu Lai đi vội xuống phía đuôi tàu, nơi khói bếp đang lãng đãng bay lên mơ màng. Nhà văn thấy cô gái (lại cô gái) của Đoàn Nghệ thuật Quân khu 2 đang ngồi ở boong tàu thái rau giúp anh nuôi. Cô gái ngước đôi mắt tròn như mắt chim bồ câu, đôi mắt to ướt long lanh nhìn nhà văn như bị thôi miên. Và trong vô thức, nàng vẫn đưa dao soẹt... soẹt. Bất ngờ dao phay chạm vào ngón tay. Máu chảy loang đỏ.

Bạn diễn và các thủy thủ lúng túng chưa biết xử trí ra sao thì “Chu Lai anh hào” chạy đến, thay vì lấy mạng nhện (à quên, ở tàu không có mạng nhện) hay lấy băng gạc cầm máu cho người đẹp thì ông lại cầm ngón tay búp măng ấy đưa vào miệng... mút. Máu sạch. Vết thương liền miệng. Rồi ông bóp chặt chỗ đứt ở ngón tay cô gái để cầm máu, như thể đang cầm giữ vật vô giá chỉ sợ nó toài đi mất. Giữ ngón tay đứt của người đẹp bao nhiêu lâu thì không thấy ông kể.

Sáng hôm sau, “Chu Lai nhà văn” dậy sớm chòi lên boong tàu tập thể dục đã thấy người đẹp đang hít thở không khí thanh sạch của biển khơi rồi. Nàng mủm mỉm, chào rồi nói: “Ước gì chú trẻ lại 20 tuổi thì cháu sẽ... chú ngay”. Chu Lai nhà văn buồn lặng, ông nhìn xuống bụng đang có dấu hiệu phệ ra, ông nhìn biển khơi mênh mông, và thở dài. Rồi ông thảng thốt hô to như ngày nào còn là lính mới tập thể dục buổi sáng: Một... hai... ba... bốn. Một... hai...

Chuyện không phải bịa

Nhà thơ - nhà báo Lê Thành Nghị đi Trường Sa tháng 4/2000, ông kể rằng: Trường Sa thường chợt nắng chợt mưa. Đảo khô hạn cần nước ngọt, nắng chang chang, nhưng mây mưa cứ ở cuối chân trời. Cầu, mong, mời, gọi, năn nỉ... đủ cả, nhưng mưa vẫn không đến. Hôm ông ra đảo Song Tử Tây, đêm có văn công. Lính đảo và khách ngồi quây quần, thân mật, ai hát được thì thay nhau lên hát, không hát được thì... vỗ tay. Hát múa được nửa giờ đồng hồ thì có mây lang thang trên bầu trời. Một chiến sĩ ở đảo vừa ôm đàn ghita vừa hát: “Mưa đi, mưa đi... chúng tôi đợi mưa. Mưa đi, mưa đi... đảo nhỏ chờ mưa...”. Bài hát phổ thơ Trần Đăng Khoa. Đột nhiên mưa lắc rắc. Rồi mưa nặng hạt. Mưa gõ bộp... bộp trên mái tôn. Nhưng đội hình vẫn không thay đổi, có nghĩa là vẫn hát, vẫn nghe, vẫn vỗ tay dưới... mưa.

Đến lượt nữ ca sĩ Cẩm Tú - Đoàn Nghệ thuật Quân khu 7 hát bài: Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa. Đàn mới dạo nhạc đã thấy lác đác chiến sĩ tiếc nước ngọt chảy phí của giời lặng lẽ về nhà lấy xô, thùng ra hứng. Nhưng thật lạ kỳ! Câu hát cuối cùng của Hà Nội mùa này vắng những cơn mưa dừng lại thì mưa cũng... tạnh. Những chiến sĩ về hứng nước tiếc vô cùng vì dại quá; nước không hứng được mà cũng không được nghe cô ca sĩ trẻ hát. Thì ra, mưa ở Trường Sa thường thoắt đến, thoắt đi, như một cô gái trẻ đẹp nhưng rất hay dỗi hờn.

Tôi đã đọc Nàng tiên nhỏ của Vương Trọng, Làng đảo của Nguyễn Hữu Quý, Vùng đảo thương yêu của Nguyễn Thị Như Trang, Cô sinh viên và người lính đảo của Nguyễn Trí Huân, Câu chuyện nhỏ ở biển của Nguyễn Đức Mậu, cùng các bút ký, phóng sự của Nguyễn Bảo, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Đình Tú... viết sau mỗi chuyến đi Trường Sa. Mỗi nhà báo quân đội, mỗi vẻ, mỗi cách tiếp cận đời sống người lính đảo và trình bày tác phẩm dưới các thể loại, phương pháp khác nhau; nhưng khi viết tất cả đều chung ở tấm lòng chân thật, thương yêu, cảm phục những người lính canh giữ biển đảo Trường Sa

Sương Nguyệt Minh
.
.
.