Nhà văn Lê Văn Trương và kỷ lục viết nhiều sách
Nhà văn Lê Văn Trương sinh năm Bính Ngọ, 1906 (cùng tuổi với nhà văn Hoàng Đạo, em nhà văn Nhất Linh, anh nhà văn Thạch Lam), ở làng Đồng Nhân nay là phố Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Cuộc đời và sự nghiệp viết văn của ông đến nay vẫn còn nhiều điều bí ẩn và tranh cãi của nhiều nhà nghiên cứu. Một điều được thừa nhận chắc chắn ở Lê Văn Trương, ông là nhà văn có số lượng tác phẩm nhiều nhất Việt
Ông nội và cụ thân sinh Lê Văn Trương có trang trại rất rộng ở Bắc Giang (nay là phố Nghĩa Long, thành phố Bắc Giang). Thuở nhỏ Lê Văn Trương học tiểu học ở Bắc Giang, năm 1921 theo bố về Hà Nội thi vào học tại trường Bưởi. Học Thành Chung tới năm thứ 3 thì bị đuổi học vì tham gia bãi khóa. Không học trường Bưởi nữa, Lê Văn Trương đi học thêm rồi thi đậu vào Sở Dây thép Đông Dương (Bưu điện Đông Dương) năm 1926.
Do có "vết" tham gia bãi khóa, ông bị điều đi làm việc ở Cao Miên (Campuchia), tại tỉnh Battambang. Cũng ở Battambang, Lê Văn Trương đã gặp và yêu cô nữ sinh trường Battambang Ngô Thị Hương, con một gia đình người Việt sinh sống tại đây. Họ nên duyên vợ chồng, bà Hương là con cả trong nhà. Chán nghề công chức, Lê Văn Trương bỏ đi khai khẩn đồn điền ở huyện Môngcoboray, tỉnh Lovea, giáp biên giới Thái Lan.
Trong cuộc đời, ông Lê Văn Trương chính thức có hai bà vợ. Bà cả - Ngô Thị Hương sinh với ông được năm người con. Ba người con trai đầu đều sinh ở Lovea; mỗi đận sinh ông đều điện về hỏi ý kiến bố, để bố đặt tên; đó là các ông Lân (Mạc Lân, con cả, sinh năm 1928), Liễn và Bổng. Hai người con sau được sinh ở Hà Nội, khi ông đã về Hà Nội làm báo, viết văn. Hai người này ông đều lấy tên nhân vật trong truyện của mình đặt tên con, đó là Lê Văn Linh và Lê Thị Giáng Vân (tên nhân vật chính trong tác phẩm "Cánh sen trong bùn").
Bà Ngô Thị Hương sinh trong một gia đình mở tiệm Cao Lâu ở Battambang, sau khi lấy ông Trương thì ở nhà lo gia đình và chăm sóc con cái. Ngoài tài nấu nướng bà còn là người phụ nữ rất giỏi nữ công gia chánh, khoảng những năm 1943-1945 bà từng mở lớp dạy nữ công. Bà Hương nết người thuần hậu, hiền thục; cả cuộc đời chỉ lo phục vụ chồng và nuôi con.
Bà hai là Nguyễn Thị Đào, kém ông gần hai chục tuổi, mới mất khoảng vào năm 2000. Bà Đào chỉ nhỉnh hơn con trai cả ông chừng bảy tám tuổi, xuất thân là cô gái nông thôn có nhan sắc, quê ở Lạc Quần, Nam Định. Bà Đào bị ép duyên ở quê, bỏ làng lên Hà Nội rồi bị sa chân đi làm gái nhảy, lấy một ông chồng làm đốc tờ thú y (bác sĩ thú y). Được một thời gian họ bỏ nhau.
Ông Trương gặp bà Đào khi ông đã rất nổi tiếng trong làng văn. Trai tài gái sắc gặp nhau, bất chấp sự chênh lệch tuổi tác khá lớn, bà theo ông Trương về làm vợ lẽ. Dù đã từng làm gái nhảy, tiếp xúc và quan hệ với giới trí thức, thượng lưu ăn chơi thời ấy, bà Đào vẫn giữ được tâm hồn, tính nết của một người phụ nữ nông thôn. Bà là người tốt tính, nhường nhịn và rất chung tình với ông Trương, mặc dù sau khi lấy bà ông còn có rất nhiều quan hệ với những người đàn bà khác.
Lấy bà Đào làm hai, ông Trương không ép buộc các con mình gọi bà là mẹ kế, cho phép xưng hô kiểu chị em. Nhưng bà Hương (bà cả) không đồng ý, bắt các con phải gọi là mẹ vì là vợ của bố. Điều đặc biệt, bà Hương và bà Đào sống với nhau rất hòa thuận, thân ái. Bà Đào khi lấy ông Trương không biết chữ, bà biết chữ là nhờ con trai cả ông Trương dạy. Cách dạy cũng rất đặc biệt, khác thói thường, thông qua học Truyện Kiều.
Từ trước tới nay, trong một số tài liệu đã công bố hoặc giai thoại hay sự đồn thổi để cắt nghĩa sức viết nhanh, khỏe của Lê Văn Trương; người ta cho rằng nhiều khi ông sáng tác bằng cách đọc cho hai bà vợ viết cùng lúc. Hoặc hơn thế nữa, có những sáng tác của ông do hai bà vợ viết, còn ông chỉ phác cho hai bà cái ý tưởng, cái cốt truyện... Những điều đó hoàn toàn không có thực, bởi lẽ: bà Hương dù đã qua học hành nhưng từ khi lấy ông Trương, mục đích cao nhất của đời bà là phụng sự chồng và nuôi con. Còn bà Đào thì "cái sự" biết chữ của bà cũng chưa chắc đã đủ cho bà dùng, nói gì đến viết sách.
Theo nguồn tư liệu của gia đình khẳng định, Lê Văn Trương thường viết văn ngay tại các xóm cô đầu (nhiều nhà văn nổi tiếng của nước ta giai đoạn 1930-1945 thường hay lui tới các xóm cô đầu), và ở trại viết riêng của ông ở xóm Ao Giảng thuộc vùng Láng (giờ là Láng Hạ, phía gần cầu Mọc). Trại viết này gần nhà của nhà văn Vũ Trọng Phụng ở làng Nhân Chính. Thỉnh thoảng ông mới viết tại nhà riêng. Có lần ông tâm sự với người trong gia đình, bút danh duy nhất ông dùng: Cô Lý, không phải là tên một người con gái cụ thể nào mà là sự cô đơn, cô liêu... với cái lý của mình... Ngày nay chúng ta gọi là quan điểm riêng.
Mỗi khi về viết tại nhà, Lê Văn Trương ngồi lì trong buồng riêng suốt ngày đêm. Người duy nhất được phép vào là bà Hương, bà vào để hầu việc ăn uống cho ông. Buồng viết riêng của ông gồm một bộ đivăng, một bàn viết, một tủ sách, ngoài ra không có thứ gì khác. Ông Trương ăn uống rất cầu kỳ và cũng hiếm có bà vợ nào cần mẫn, kỹ càng, chu đáo làm các món ăn cho ông như bà.
Theo người trong gia đình kể lại, sở dĩ ông về viết tại nhà là vì muốn được ăn các món do bà vợ làm mà ông đi hết các tiệm Cao Lâu không có được như ý. Ví dụ như món cháo gà, bà phải để cả con hầm nhỏ lửa cho thật nhừ rút xương ra. Ông Trương đặc biệt ưa thich món giò ốc nhồi. Để làm món này, bà Hương phải lặn lội xuống tận chợ Mơ chọn mua từng hàng, nhặt những con ốc béo, tươi mang về ngâm nước gạo đủ hai ngày hai đêm cho ốc nhả hết mọi tạp chất ra. Sau đó lau kỹ từng con bỏ vào chiếc chậu đồng sạch, bao nhiêu ốc thì đập bấy nhiêu trứng gà cho ốc ăn hết trứng gà rồi mới khêu lấy thịt ốc mang bó giò. Bà Hương kể, ông viết nhanh và khỏe lắm, có cuốn ông chỉ viết trong có ba ngày đã xong, gần hai trăm trang.
Người ta thường nói Lê Văn Trương là nhà văn mơ mộng, lãng mạn... Thực ra không phải thế. Một trong những nguyên nhân giúp bút lực ông dồi dào chính do ông có một vốn sống phong phú, sự từng trải từ chính cuộc đời sôi nổi, đầy nhiệt huyết của ông. Lê Văn Trương đã từng đi buôn trên địa bàn rất rộng của thời ấy: Việt
Rất nhiều tiểu thuyết được ông viết ra mang trong đó một phần đời của ông. Chẳng hạn cuốn "Trận đời" viết về thất bại của ông khi mở đồn điền, cuốn "Trường đời" nói về việc thầu khoán, cuốn "Cánh sen trong bùn" viết về bà vợ hai - bà Đào, cuốn "Tôi là mẹ" viết về vợ cả - bà Hương... Đề tài trong tiểu thuyết của Lê Văn Trương rất đa dạng, theo Nguyễn Huệ Chi (Từ điển Văn học 1985): "Một là loại truyện phiêu lưu, ly kỳ của tầng lớp dân nghèo lang bạt như các cuốn "Cô Tư Thung", "Cánh sen trong bùn", "Trường đời", "Tôi thầu khoán", "Những đồng tiền xiết máu". Hai là loại truyện đề cao tình cảm gia đình với tấm gương mẫu mực của các bậc phụ huynh như: "Người anh cả", "Một người cha", "Người vợ lý tưởng", "Người vợ hoàn toàn", "Một đứa bé mồ côi", "Con đường hạnh phúc", "Đứa con hạnh phúc". Ba là loại truyện phê phán, đả kích thói hư tật xấu của tầng lớp thượng lưu như: "Trong ao tù trưởng giả", "Một lương tâm trong gió lốc", "Đứa cháu đồng bạc", "Một cô gái mới", "Chồng chúng ta"...".
Nói đến Lê Văn Trương, lứa thanh niên 17, 18 tuổi lúc bấy giờ vẫn nhớ và hâm mộ truyện của ông, bởi, ông đã xây dựng nên mẫu người anh hùng cá nhân giàu nhiệt huyết phù hợp với tinh thần, mong muốn tự lập tự cường của dân tộc ta thời ấy. Cho nên, có thể nói rằng Lê Văn Trương có công góp phần khích lệ tinh thần của lớp thanh niên đương thời. Tuy nhiên, khách quan nhìn nhận, như gia đình ông nhận xét: "Văn chương của ông dễ dãi cho nên ông viết rất nhiều nhưng tác phẩm đọng lại được quá ít".
Hay như đánh giá của nhóm biên soạn bộ sách "Tác gia văn học Thăng Long - Hà Nội": Truyện của Lê Văn Trương nói chung đều đề cao một loại mẫu người Anh hùng thời đại vừa oanh liệt phiêu lưu mạo hiểm vừa gương mẫu trong đời sống gia đình, vừa có lương tâm cao thượng, lại vừa tài năng. Những nhân vật của ông xây dựng thường giả tạo, gượng ép, cho nên dù tác giả muốn đề cao đạo đức nhưng thiếu sức thuyết phục, vì vậy giá trị nghệ thuật của tác phẩm bị giảm đi khá nhiều. Tác phẩm của Lê Văn Trương vào thời kỳ ấy tuy hấp dẫn được độc giả thị thành, nhưng không mấy tác phẩm đứng lại được với thời gian... Dù sao tác phẩm của Lê Văn Trương cũng đã góp phần làm phong phú nền văn học quốc ngữ nửa đầu thế kỷ XX.
Theo gia đình Lê Văn Trương kể lại, ông cho rằng con người ta sống ở trên đời phải tự lực tự cường... Quan điểm ấy in đậm dấu vết trong các tác phẩm của ông. Ông dậy con cũng vậy. Lê Văn Trương thường nói với các con phải tránh 3 điều: không ngậm dọc tẩu (hút thuốc phiện), không ăn cắp, không để ai đánh mình mà mình không đánh lại.
Câu chuyện sau kể về cách dạy con của ông. Một lần, con trai cả ông cùng gia đình về Bắc Giang (nơi bố ông đang ở) ăn Tết. Bố ông phong kiến và giữ nếp sống rất nghiêm cẩn; con gái, con dâu không có việc sai bảo cấm được lên nhà trên; sinh hoạt, ăn uống đều ở dưới nhà ngang. Nhà bóc bánh chưng (khi ấy xắt bánh chưng ở Bắc Giang không xắt lạt chéo như Hà Nội mà xắt lạt dọc ngang quân cờ), cậu bé anh họ con trai cả ông, chưa được phép định thò tay bốc ăn trước; con trai ông chộp tay ngăn lại, thế là hai cậu bé đánh nhau. Bố ông cầm roi xuống đánh bắt cháu phải chui vào cũi nhốt chó; vừa lúc ấy ông Trương đi về, hỏi, biết đầu đuôi câu chuyện, ông bảo con trai: "Mày làm đúng" và không cho con chui vào cũi chó. Bố ông tức lắm, hầm hầm cầm roi lên nhà…
Một lần khác, muốn cho con biết đi xe đạp, ông Trương mang về chiếc xe đạp rồi bảo con: "Tập đi, tuần sau phải biết đi". Mặc cho con muốn tập thế nào nhưng hết thời hạn phải biết đi xe đạp. Lại một lần ông mua vé bơi ở Ấu Trĩ Viên (công viên dành cho trẻ em) mang về bảo con: "15 ngày nữa phải biết bơi". Cách dạy của ông là như vậy, không ủy mị, dỗ dành mà đề ra mục đích phải hướng tới để con cái thực hiện theo cách của mình. Tiếc rằng ba điều ông thường răn dạy con thì chính ông lại phạm vào một điều, đó là ngậm dọc tẩu…
Sinh thời Lê Văn Trương sống khoáng đạt, quảng giao, bạn bè văn chương, ngoài văn chương rất đông. Theo gia đình kể lại trong số đó có ông Trần Huy Liệu và ông Đặng Kim Giang, Chủ tịch Khu II. Khi Cách mạng Tháng Tám giành được chính quyền, con trai cả ông vào bộ đội và sau đó tham gia đoàn quân Nam Tiến; bản thân ông Trương đến năm 1950 cũng vào bộ đội. Ông ở Tiểu ban Văn nghệ của Ban Tuyên huấn thuộc Phòng Chính trị Liên khu III.
Nhà văn Lê Văn Trương tham gia hai chiến dịch đánh Pháp ở Hòa Bình và Lê Xá (
Buồn chán vì thất bại khi chuyển hướng viết mới, bệnh gan của ông tái phát, ông tâm sự cùng con trai cả - Mạc Lân: "Thày phải vào thành vì bệnh tật nhưng thày không làm điều gì xấu". Sau đó ông đến Ủy ban Hành chính kháng chiến Liên khu III, lúc ấy đóng ở Xích Thổ, tỉnh Ninh Bình xin được giấy vào thành (Hà Nội). Vào thành, ông không mang theo người con nào (thời điểm ấy gia đình ông đang ở khu kháng chiến).
Đầu năm 1954, ông vào Sài Gòn làm thầu khoán, viết sách, viết báo, tái bản sách. Nhưng ở Sài Gòn sách của ông không có độc giả, công việc thầu khoán, đi buôn cũng suy sụp; ông bị vỡ nợ và sống trong nghèo túng đến năm 1963 thì mất.
Những chuyện trên tôi được biết qua những buổi trò chuyện cùng nhà văn Mạc Lân - con trai cả của nhà văn Lê Văn Trương. Nhà văn Mạc Lân từng là Chánh văn phòng của Hội Văn nghệ Hà Nội khi sáng lập, gia đình hiện ở khu tập thể Liên Cơ, quận Cầu Giấy, Hà Nội, ông Lân mất khoảng cuối năm 2004. Bên cạnh đó là nguồn tư liệu riêng của nhà văn Lê Bầu - bạn thân của con trai cả ông Lê Văn Trương và nhà văn Hoàng Quốc Hải
