Nhà văn Lê Tri Kỷ - Một đời văn tài hoa và sâu sắc
Tuyển tập truyện ngắn Lê Tri Kỷ do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 1995. Cuốn sách được ấn hành nhân dịp Kỷ niệm 50 năm thành lập Công an nhân dân Việt
Trong lời nói đầu của cuốn sách tuyển truyện ngắn này, Nhà Xuất bản trân trọng viết: "Nhà văn Lê Tri Kỷ (1923-1993) đã sáng tác nhiều tác phẩm văn học có giá trị mang tầm vóc thời đại, để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng sâu sắc. Lúc sinh thời ông luôn luôn khát khao sự sáng tạo và vươn tới không ngừng trong lao động nghệ thuật của mình.
… Hơn ba mươi năm cầm bút, với trên mười tác phẩm chính ở đủ các thể loại như: Truyện ký, truyện vừa, kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết… biểu hiện sự am hiểu sâu sắc của Lê Tri Kỷ về mọi đề tài của cả một xã hội rộng lớn ông từng sống. Mặt khác, ông đặc biệt gắn bó và trăn trở với mảng đề tài an ninh xã hội - một đề tài mà ông đã góp nhiều công sức và tâm huyết để khẳng định chỗ đứng của nó trong nền văn học đương đại nước nhà".
Thú thực là tôi cũng chưa đọc được hết ông một cách toàn bộ, dù vậy vẫn nhận ra ở ông cùng văn và bên văn là một cây bút có phong cách riêng và một con người nhân hậu, trách nhiệm. Văn ông cẩn trọng, chừng mực, đượm chất nho gia, có nét tây học và đôi chút hóm hỉnh dân gian giàu chất quê kiểng xứ Quảng. Nhiều người nói đọc văn ra người. Với nhà văn Lê Tri Kỷ, tôi càng nghiệm ra điều này là đúng sau khi đọc văn ông.
Tuyển tập truyện ngắn của nhà văn Lê Tri Kỷ in dày, trên năm trăm trang với nhiều tác phẩm có ấn tượng được nhiều người đọc nhắc đến như Phố vắng, Một người không nổi tiếng, Không thiện không ác, Những tiếng nói thầm…
Tôi chủ ý mở đọc hai truyện ngắn, không có truyện nào được lấy, được chọn làm tên sách trong các tập của ông đã xuất bản với mục đích thưởng thức những văn phẩm bình thường nhất của ông. Đấy là hai truyện chỉ nằm trong tập là truyện ngắn Đêm Văn Miếu và truyện ngắn Mụ Quới. Chọn như vậy chỉ là muốn thưởng thức những truyện ngắn như bao truyện ngắn khác của ông trong nhiều cái tôi đã đọc, đã ngẫm, lâu rồi và hôm nay đọc lại như muốn tìm lại, đo lại cảm xúc của mình về văn chương của một con người, một bậc đàn anh mà mình quý trọng.
Thật thú vị là tôi đã đọc được một mạch hai truyện này trong một tâm thế thư thái rồi cảm và thấy hút cho dù các tác phẩm ấy ra đời đã cách đây rất nhiều năm. Vẫn là mạch văn Lê Tri Kỷ đầm ấm, từng trải. Thật khó có thể quên nếu ta bình tĩnh và bình tâm đọc ông qua truyện ngắn để thấy ra cái ý vị của văn ông, cùng những vẻ đẹp của một thời được ông thể hiện qua một thể loại thuộc vào thế mạnh của ông.
Đêm Văn Miếu là một truyện ngắn giản dị chỉ là nhìn ngắm và nghĩ suy. Nhân vật chính là một người phụ trách buồng phòng ở một khách sạn Hà Nội. Một người đàn ông Việt
Ông khách nước ngoài này đã từng đặt ít tiền nhỏ để cảm ơn anh hầu buồng nhưng lại được nhận về một món quà mà ông từng muốn có vì ưa thích đã được anh mua tặng vợ ông với lời dặn: Nhờ ông giao chút kỷ niệm về đất nước này cho bà, ông không phải trả gì thêm, vì số tiền của ông vừa đủ. Cái nhìn, cái cảm, sự nhận ra của một du khách người Hy Lạp qua công việc một người hầu buồng, một vị thế xã hội tương đối thấp như quan niệm của nhiều người, đã khác khi đêm cuối cùng rời đất nước này.
Tranh thủ phút chờ tàu, ông đã đến Văn Miếu. Tại đây ông đã phát hiện, đúng ra là tìm thấy phẩm chất thuần Việt, một nét văn hoá Việt cao đẹp của người làm nghề phục vụ. Khi ở khách sạn ông thường thấy anh hay hí húi ghi chép gì đó vào cuốn sổ tay riêng của mình những lúc rảnh rỗi. Cái khó hiểu đó lúc ông đến Văn Miếu nghe thơ mới phát hiện ra ở anh:
Bên cạnh cái cột lim to vừa hai người ôm, sát bục nhà bình thơ, ông vừa nhận ra anh nhân viên hầu buồng. Chắc anh phải đến sớm lắm mới dành được chỗ ngồi ưu tiên ấy. Phidias nhớ lại dáng điệu vội vàng của anh ta lúc chiều.
Bây giờ anh ngồi đó, tựa lưng vào cột, người co lại, tập trung theo dõi từng câu thơ, chốc chốc lại đặt lên đầu gối quyển sổ tay bìa bọc vải xanh, hí hoáy ghi chép…
Đọc truyện ngắn Đêm Văn Miếu của nhà văn Lê Tri Kỷ ta thấy tin yêu và tự hào trước một phẩm hạnh thật đẹp của người mình, một nét văn hoá Việt trước một vị khách phương Tây trong một con người mà nghề nghiệp của họ dễ khiến ta có lúc hiểu lầm. Trong truyện ngắn này, tôi còn đọc được một đoạn văn giàu phát hiện về một giá trị văn hóa khác của nhà văn về chùa Tây Phương qua cái nhìn của nhân vật khách du lịch người Hy Lạp:
Thiên nhiên ở Tây phương không đẹp, nhưng mỗi pho tượng Kim Cương, La Hán, mỗi đường nét kiến trúc như có sức mạnh dẫn dắt ông vào những niềm suy nghĩ mênh mang… ở đây, một tư tưởng điêu khắc thật là kỳ lạ đã đưa những nét thiêng liêng của thần, phật xuống gần con người; cũng như ở nước Hy Lạp cổ đại của ông, những nhà điêu khắc đã nâng vẻ đẹp con người lên ngang vẻ đẹp thần thánh…
Một đoạn văn giàu cảm xúc và kiến thức!
Trong truyện ngắn Mụ Quới, tôi đọc văn ông mà có cảm giác như đọc một tự truyện về hồi Cách mạng Tháng Tám mới thành công nhà văn đang còn công tác ở quê hương Quảng Trị của mình:
Cách mạng Tháng Tám thành công chưa tròn hai tháng thì Việt Minh ở Quảng Trị rút một số cán bộ về thay thế khung nhân sự bộ máy trị an cũ. Thế là đang làm ở Thanh niên cứu quốc một huyện miền núi, tôi được điều về tỉnh, làm luôn… cảnh sát trưởng.
Tại đây ông đã tham gia vụ án đầu tiên trong vai tôi của Truyện ngắn. Vụ án được ghi lại khi tác giả khép truyện như thế này:
Giao thừa năm ấy, tôi viết bản báo cáo thành tích khám phá vụ án đầu tiên của tôi trong nghề, mà bâng khuâng mãi về những điều cao đẹp vừa tìm ra - một khám phá ảnh hưởng đến cả đời nghề nghiệp của tôi - trong những tâm hồn tưởng đã bỏ đi như mụ Quới.
Đây là lời mụ Quới vào đoạn điều tra của vụ án qua theo dõi của các trinh sát:
Chết răng được? Hắn còn nóng hung. Tao đi xin cho hắn ăn!… Một hớp cháo là hắn tỉnh lại! Chi chớ một bát cháo thì xin nhà mô cũng được?… Tao đi khỏi tỉnh ni. Ở chi đây cho sáng tối con mụ khách nó chửi tao không biết mần người dân độc lập?
Chuyện là: Con gà mái đen lông nổ của bà Doàng bị mất. Bà Doàng nghi mụ Quới lấy và đi báo cảnh sát. Bà Doàng là một ngoại kiều, lưu trú trên đất Quảng Trị đã nhiều năm. Ban đầu mụ Quới chối lấy chối để không chịu nhận mặc dù phải ăn roi gân bò của ông cảnh sát của chế độ cũ được chế độ mới dùng lại. Người cảnh sát trưởng mới đã phản đối cách hỏi cung bằng kiểu đòn roi ấy của ông ta và nói với mụ Quới:
- Bác ấy nóng quá! Bây giờ bà đã là dân một nước Độc lập!
Tức thì bên tai tôi nổi lên một chuỗi cười không sỗ sàng nhưng mỉa mai, không ồn ào mà cay độc. Tiếp đó là giọng nói cố tình uốn lưỡi cho thành lơ lớ - vì cố tình lơ lớ nên nó càng trêu cợt - của bà Doàng cất lên:
- Không làm dân Độc lập được đâu. Độc lập gì mà còn ăn cắp?
… Tôi ngồi lặng đi, chưa biết nên xử trí thế nào thì chợt thấy mụ Quới xông thẳng tới trước người đàn bà ngoại kiều. Mặt mụ tái đi, đôi môi ương ngạnh trở nên hung dữ. Bị tôi cản, không túm được đầu tóc bà Doàng, mụ xoay ra chửi bà bằng lời lẽ thô tục. Mụ chỉ còn thứ vũ khí ấy. Càng giận mụ càng thô tục hơn. Mụ chửi bà ăn cháo đái bát, và để dẫn chứng, mụ nhắc lại câu chuyện đồn đại về ông nội bà, bị khánh kiệt gia tài, sau một vụ kiên tụng gì đó với tên "Tây lá" ở Đông Hà, đã phải xách bị đi xin gạo từng nhà người dân Việt với lời ve vãn đầu lưỡi "lá lành đùm lá rách" không lấy gì làm oai cho lắm!
Vì đói khổ mà mụ Quới sinh ra ăn cắp. Vì lòng tự ái của người dân một nước mới được độc lập mà mụ đã rũ khỏi người tật xấu để hoàn lương cho dù đứa con bé bỏng của mình đang rũ ra vì đói. Chuyện của thời xa xưa mà đọc lại vẫn ngời lên lòng tự trọng của một đối tượng hình sự khi biết hối cải. Đọc xong chuyện về một con người dưới đáy thấy ra lòng nhân hậu của nhà văn. Đề tài về trật tự an ninh xã hội đã được nhà văn Lê Tri Kỷ thể hiện nhuần nhị như vậy!
Văn Lê Tri Kỷ cho ta nhiều xúc động về lòng tốt và cái đẹp của con người trước cuộc sống cho dù nhiều tác phẩm ông viết thuộc đề tài Công an nhân dân, một đề tài nếu hiểu một cách sơ sài thì đấy là trinh thám, là các vụ án. Cứ bình tâm đọc lại, đọc kỹ, không định kiến ta sẽ nhận ra chân giá trị của một người, của nhiều người trong lĩnh vực chữ nghĩa ở một giai đoạn mà lịch sử dân tộc nhuốm màu lửa đạn chiến tranh cùng xương máu của những người vệ quốc để sau này có ngày non sông toàn vẹn trong khúc hoan ca bình an buổi hết giặc.
Nhà văn Lê Tri Kỷ, nhà văn đầu tiên được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam trong nhiều cây bút văn học công tác trong lực lượng Công an. Ông vào hội bằng tài văn của mình. Từ tài văn của mình mà sự nghiệp và tên tuổi của ông được nhắc đến trong thế hệ những cây bút văn xuôi đánh giặc gạch nối từ kháng chiến chống thực dân Pháp sang đế quốc Mỹ với những thành tựu họ đã làm được. Đọc văn của nhà văn Lê Tri Kỷ ta không gặp ở đấy những đao to búa lớn, những mánh mung ly kỳ hàng chợ, những minh họa khuôn sáo. Rất ít những mẹo mực kiểu trinh thám giật gân, càng không có những trang hình sự tự nhiên chủ nghĩa. Là nhà văn công tác trong lực lượng Công an, lấy đề tài Công an nhân dân làm cảm xúc chính để sáng tạo nhưng mỗi tác phẩm của nhà văn khi ra đời lại vượt ra ngoài khuôn khổ một nội dung đặc thù để mang một ý nghĩ xã hội rất lớn.
Nhà văn Lê Tri Kỷ mất năm 1993. Ông là người mà khi mất đi nhưng kỷ niệm mãi còn và cứ lớn dần trong lòng người còn sống. Mọi người nhớ về nhà văn Lê Tri Kỷ bằng những tình cảm đẹp, những trang văn đẹp ông đã để lại cho đời! n
|
Nhà văn Lê Tri Kỷ viết không thật nhiều nhưng cũng không thể gọi là ít. Một đời văn ông để lại với: "Thủ phạm vụ án Ôn Như Hầu" (Ký sự - Nhà xuất bản Lao động, năm 1960), "Cây đa xanh" (Truyện Trinh sát - Nhà xuất bản Phổ Thông, năm 1961), "Phố vắng" (Tập truyện ký - Nhà xuất bản Văn học, năm 1965 ), "Một người không nổi tiếng" (Truyện ký - Nhà xuất bản Văn hoc, 1970), " Đất lạ" (Kịch bản Điện ảnh - Nhà xuất bản Văn học, 1971", "Biến động ngày hè" (Kịch bản sân khấu (Nhà xuất bản VHGP, 1976), "Những tiếng nói thầm" (Truyện ký - Nhà xuất bản Văn học, 1978), "Thung lũng không tên" (Kịch bản Điện ảnh - Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1981), "Sống chìm" (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1984), "Câu lạc bộ chính khách" (Tiểu thuyết 2 tập, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1986), "Không thiện không ác" (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1988), "Cuộc tình thế kỷ" (Tập truyện ngắn - Nhà xuất bản Công an nhân dân, 1992 - Tái bản 1994)… |
|
Tại Đại hội Chi hội Nhà văn Công an nhiệm kỳ IV ngày 24/6, nhiều ý kiến rất xúc động tôn vinh nhà văn Lê Tri Kỷ, một nhà văn đầu đàn của lực lượng CAND có công lớn, nâng tầm mảng văn học đích thực về đề tài an ninh trật tự và bình yên cuộc sống! Với bút pháp lão luyện nhuần nhị, bậc thầy, văn của ông đã khai thác tâm lý tội phạm quá sâu sắc, có tính chất mở đường cho một dòng văn học hấp dẫn và nhân văn về đề tài mới mẻ ANTT. Nhà thơ Hữu Thỉnh, với tư cách Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam đã xúc động nói: Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam ngày càng hiểu hơn tầm vóc của nhà văn Lê Tri Kỷ, sẽ đề xuất Nhà nước tặng giải thưởng về VHNT cho nhà văn Lê Tri Kỷ một cách sớm nhất. PV |

