Nhà thơ Nguyễn Hữu Quí: Ám ảnh về số phận con người
Người ta sinh ra ai cũng có nhiều ước vọng nhận nhiều cái tốt đẹp cho mình. Để có được điều đó chúng ta cũng phải phấn đấu hết mình, với cái tâm trong sáng, nhất là đối với những ai theo nghiệp văn chương. Nhà thơ Nguyễn Hữu Quí là một con người như thế. Không kể tác phẩm đã xuất bản trước đây, chỉ trong năm 2009 và mấy tháng đầu năm con hổ này (2010), anh đã cho ra mắt bạn đọc tập trường ca "Những hồi chuông màu đỏ", viết về đề tài thương binh liệt sĩ. Sách in ra chỉ để tặng cho các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, các thương binh, cựu chiến binh, gia đình liệt sĩ và các trường học...
Bên cạnh hai tập trường ca và rất nhiều bài thơ mới nhất là bài "Độc huyền cầm Hà Nội", được nhiều người cảm nhận và được giải thưởng của Báo Văn Nghệ và Đài Phát thanh Truyền hình Hà Nội tổ chức, anh còn đoạt giải nhì cuộc thi bút ký văn học "Chân dung người đương thời" do Báo Sài Gòn giải phóng và Hội Nhà văn tổ chức... Thơ Nguyễn Hữu Quí mang nặng tri ân đối với những người đã anh dũng chiến đấu và hy sinh vì Tổ quốc, mang nặng tình yêu quê hương - đất nước.
Nguyễn Hữu Quí sinh ra bên cửa sông Gianh. Dòng sông ấy khảm vào tâm hồn và hình thành nên tính cách của nhà thơ. "Con sông phía lở, phía bồi/ Bến mưa bến nắng, bên vơi bên đầy/ Gió sương thấm trĩu vai gầy/ Bão chưa tan đã heo may gánh gồng… Tôi uống dòng sông qua mẹ - ngọn nguồn/ Giọt cay đắng, giọt ngọt bùi xứ sở...".
Mùa hè năm 1974, vừa tốt nghiệp cấp III, Nguyễn Hữu Quí xếp bút lên đường vào làm lính của Binh đoàn Trường Sơn - nơi mà "ai chưa đến đó như chưa hiểu mình". Gần 23 năm làm lính, lăn lộn cùng đồng đội, thanh niên xung phong và nhân dân hai nước Việt - Lào trên tuyến đường Trường Sơn hùng vĩ, Nguyễn Hữu Quí đã tận mắt chứng kiến bao kỳ tích lịch sử hào hùng, bao chiến công hiển hách, bao tội ác tày trời của giặc Mỹ và biết bao gian khổ, khó khăn, mất mát, đau thương của quân và dân ta. Chính từ lẽ đó, trong thơ Nguyễn Hữu Quí, đề tài chiến tranh luôn đậm nét và gây ấn tượng hơn cả.
Trong "Nén nhang đồng đội", Hữu Quí viết: " Một thời chia lửa chia bom/ Tiếng thơm quyện lấy tiếng thơm, một thời/ Máu chuyền cho máu đỏ tươi/ Nuôi nhau từng trận sốt vơi lá ngàn". Suy nghĩ bao trùm cả cuộc đời sáng tác của Nguyễn Hữu Quí là: "Từ ám ảnh về số phận chung của con người: Cái chết, tôi niệm giữ đức tin vào những điều tốt đẹp. Tôi cầu mong cuộc sống ngày càng lương thiện, ấm áp hơn. Tôi thường ước ao được viết bằng xúc động sâu lắng, trong sáng bởi tình yêu thương con người".
Nguyễn Hữu Quí đã viết nhiều, viết sâu về đề tài thương binh, liệt sĩ. Đó là những lời thơ viết bằng cả gan ruột, không một chút điệu đàng, mà như tứa máu trong từng con chữ. Đọc lại 5 tập thơ, 2 tập bút ký và 1 tập tiểu luận phê bình văn học của Nguyễn Hữu Quí xuất bản trong 10 năm qua, tập "Mười nghìn khát vọng" thấm đậm đề tài thương binh liệt sĩ. Riêng tập "Bông Huệ trắng" chỉ có 26 bài thơ, nhưng có tới 6 bài anh viết về những đồng đội đã hy sinh.
Càng sống gần Nguyễn Hữu Quí, càng đọc thơ, bạn bè càng cảm động trước cái tâm đằm thắm, đôn hậu và nhân từ của anh. Bằng thể thơ lục bát, với bài "Nén nhang đồng đội", anh như đang trò chuyện với những liệt sĩ nằm dưới mộ. Anh như nói với họ rằng: Sự hy sinh của các đồng chí, các bạn đã góp phần cho sự đơm hoa kết trái độc lập tự do dân tộc.
Với "Nỗi niềm", anh lại dùng những lời thơ của mình để an ủi những người vợ liệt sĩ trong cái việc đầy đau khổ là đi bước nữa, sang ngang lần nữa: "Chị ơi!, Đò cứ sang ngang/ Sông xưa vẫn sóng mang mang nối lời/ Gió lành ru lá trầu tươi/ Bao nhiêu đồng đội anh tôi cùng về". Bằng cái tâm, bằng sự thông minh tìm tòi sáng tạo, để rồi bằng thơ, Nguyễn Hữu Quí dành những tình cảm trân trọng nhất cho những người lính của nhân dân đã ngã xuống trên chiến trường, đồng thời anh cũng dành những tình cảm da diết ấy cho những người mẹ, người vợ, người con của liệt sĩ. Tình cảm đối với sự mất mát đau thương của gia đình và người lính trong chiến tranh cứ dồn nén trong người anh.
Anh đã chia sẻ với mọi người, đã trở thành cao trào với "Khát vọng Trường Sơn", với "Mười nghìn bát hương" là mười nghìn: chiếc gậy của thời đôi mươi, ngôi sao cháy, tiếng chuông ngân, trái tim neo ở đầu nguồn, đôi vai từng gánh Trường Sơn, đôi tay mở rừng xẻ núi, đôi chân bám trên trọng điểm, đôi mắt ngước hái mây chiều, ngọn đèn thắp miền dông bão, bếp ấm giữa lòng rừng xanh, cơn mưa, cơn nắng, trận sốt bạc rừng nguyên sinh, vết đau, vòng trăng… những cái chết đã hóa thành bất tử, thêm rạng ngời bảng vàng Tổ quốc, muôn đời sau con cháu vẫn ghi ơn…
"Khát vọng Trường Sơn" của Nguyễn Hữu Quí đã đoạt giải nhì mà không có giải nhất trong cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội năm 1996. Đó là giải thưởng lớn đầu tiên của tập thơ đầu tiên trong thơ đầy khát vọng của Nguyễn Hữu Quí. Từ đó, theo đà, thơ Nguyễn Hữu Quí cứ "tuôn chảy" nhiều bài thơ hay, trong đó có nhiều bài thơ lục bát với nhiều câu phập phồng hơi thở và hồn vía của ca dao, neo đậu trong tâm trí người đọc.
Mỗi tác phẩm của Nguyễn Hữu Quí đều có giá trị sáng tạo, giá trị chân - thiện - mĩ, giá trị trong các cuộc thi và anh đã đoạt giải ba trong cuộc thi bút ký của tuần báo Văn nghệ năm 2002-2003, đoạt giải C trong cuộc vận động sáng tác văn học nghệ thuật cho thiếu nhi của Nhà xuất bản Kim Đồng 2001-2002, đoạt giải tư trong cuộc thi sáng tác văn học cho thiếu nhi do Hội Nhà văn Việt Nam - Ủy ban Bảo vệ chăm sóc trẻ em và đại diện UNICEF tại Việt Nam tổ chức năm 2001, đoạt giải B giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng 1999-2004 với trường ca "Sinh ở cuối dòng sông" và rất nhiều giải khác.
Nguyễn Hữu Quí sinh ra và lớn lên trên mảnh đất đã phải gánh chịu nhiều cuộc chiến tranh khốc liệt và đã từng chứng kiến bao cuộc đời và số phận con người trong suốt gần 35 năm làm anh bộ đội Cụ Hồ, có lẽ vì thế mà anh luôn đau đáu về vết thương chiến tranh, về "Cái chết", ám ảnh số phận chung của con người và bằng cảm xúc sâu lắng, mà viết, mà đền ơn đáp nghĩa. Hiện anh là Đại tá, công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội và đang tiếp tục viết bằng cái tâm trong sáng của mình để xứng đáng với sự mong mỏi của bạn đọc
