Nhà báo Hàm Châu: Nửa thế kỷ vẽ chân dung người trí thức
Ngay khi tôi viết những dòng này, muốn hỏi ông một điều qua điện thoại, thì đầu dây bên kia đã nghe tiếng bà trả lời: "Nhà tôi đang ở
Mang "cốt tính" hiếu học bẩm sinh của quê hương
Nhờ uy tín trong làng báo Việt
Có hôm anh lưu trú trong khách sạn bốn - năm sao giữa trung tâm
Nhiều bữa được đãi tiểu yến, đại yến có vây cá mập, yến sào, bào ngư, nhưng cũng lắm phen lao vào những chuyến đi tự túc, phải tính từng đồng tiền lẻ, chỉ để kiếm thêm "tư liệu sống" cho một mảng đề tài anh theo đuổi từ lâu.
Thật cảm động khi đọc những dòng tự bạch chân thành này: "Bốn tiếng đồng hồ đi và về, 20 USD tiền vé, 16 USD tiền ăn trưa. Một khoản chi không nhỏ đối với cái ví tiền chưa lấy gì làm căng phồng của tôi… Tôi mỉm cười nhìn xuống gót giày chắc đã mòn vẹt thêm, trong ánh đèn đêm quạnh quẽ, dưới vòm trời tối sầm, đen kịt, lất phất mưa bay. Đúng là không đâu yên ổn, ấm êm bằng ở chính nhà mình…".
Tôi đã đọc rải rác các bài báo của Hàm Châu suốt gần nửa thế kỷ, nhưng đến khi đọc cuốn "Thời gian và nhân chứng", hồi ký của các nhà báo, có bài "42 năm làm báo đôi điều vội ghi", tôi mới nhận ra: Anh là người song hành với tôi ở tuổi đời, tuổi nghề, nhưng lại luôn ưu thế về những điều tôi thiếu hụt.
Trong hoàn cảnh kháng chiến chống Pháp anh vẫn được học hành rất cơ bản: tiếng Pháp, tiếng Anh, kể cả chữ Hán. Anh say mê học các môn khoa học chính xác, lại đồng thời là học trò các thầy Nguyễn Đức
Là người làm báo, viết văn, được giải chính thức thể loại ký của Hội Văn nghệ Hà Nội từ 1971 rồi trở thành hội viên của Hội cùng lúc nhận tấm bằng đại học kinh tế tài chính.
Có một thời, tôi chăm chú đọc những bài viết của anh về các em học sinh giỏi, các đội tuyển đi dự thi Olympic toán, lý quốc tế. Như mọi độc giả, tôi vui mừng tự hào vì con em ta đã đoạt giải nhất, giải nhì so với học sinh thế giới, dẫu các em ăn không đủ chất, học dưới bom đạn. Động cơ riêng của tôi còn là mong thêm chút hiểu biết để hỗ trợ đứa con đang học chuyên lý.
Đặc biệt là những ngày tôi tìm hiểu để viết về những con người cảm tử tay không đi phá thủy lôi Mỹ, khi Mỹ tham vọng chặn đứng luồng viện trợ nước ngoài qua đường biển. Những người cảm tử này chỉ dùng tốc độ và chấn động máy của ca nô cho thủy lôi nổ, sẵn sàng bị bắn vọt lên không như chiếc pháo thăng thiên (nhiều người thoát chết vẫn bị chùn cột sống và nhiều di chứng khác). Cho nên, tôi hết sức vui mừng và ngạc nhiên khi thấy xuất hiện ca nô phá thủy lôi không người lái T5 do ta mày mò chế tạo, phá được cả thuỷ lôi chiến lược MK52 của Hoa Kỳ.
Đọc bài báo của Hàm Châu sau này tôi mới biết: Đó là công trình của Tiến sĩ Vũ Đình Cự và các cộng sự đã "bắt sống" quả thủy lôi của giặc Mỹ, tìm hiểu nguyên lý hoạt động, "bộ óc" của nó, xác định những thông số kỹ thuật cần thiết và chế tạo thiết bị. Nhờ đó, Tiến sĩ Cự đã viết ra bài toán cho Phó tiến sĩ Nguyễn Bính lập chương trình (gồm 256 lệnh điều khiển dàn máy tính điện tử Minsk-22 chạy liền 7 giờ 28 phút 5 giây mới giải xong).
Hàm Châu cho xuất bản "Người trí thức quê hương" tập I, tập II (NXB Giáo Dục, 2002) cung cấp cho ta chân dung những nhà khoa học đáng kính như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, nhà triết học Trần Đức Thảo, các danh y bậc thầy như Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Phạm Ngọc Thạch, Đặng Vũ Hỷ, Đỗ Xuân Hợp…
Khi tôi chỉ biết phía bên này của cuộc sống, viết về những văn nghệ sĩ đồng hành "Những gương mặt những trang đời" (NXB Thanh niên, 2001) thì anh đã soi sáng cho tôi phía còn lại, trong cùng một niềm vui chung của những người mong muốn phác họa gương mặt đất nước qua những tên tuổi đáng kính, đáng yêu.
Quả vậy, nhờ Hàm Châu say mê, chuyên cần tìm hiểu… mà bạn đọc hình dung ra sinh động một thế hệ trí thức thời mở nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chỉ cần thông qua 18 chân dung in trong tập I "Người trí thức quê hương" kể trên. Đó là Tạ Quang Bửu, người thầy nhiệt tâm và thông tuệ. Trong điều kiện khó khăn đầu kháng chiến chống Pháp, ta đang đánh địch bằng nhiều vũ khí thô sơ, ông vẫn cho ra mắt bạn đọc những cuốn "Vật lý cương yếu", "Nguyên tử - hạt nhân - vũ trụ tuyến"…
Dù được học hành bài bản, năng lực tự học của Tạ Quang Bửu gần như một thiên huyền thoại (trích lời Giáo sư Lê Văn Thiêm): chỉ tự học ba tháng, ông đã đọc được tiếng Nga trong nghiên cứu khoa học. Có lần ngồi trên lưng ngựa đi xuyên rừng, ông vẫn mải mê đọc Nicolas Bourbaki, ông ngã tùm xuống suối, để sau đó ông viết được cuốn "Về cấu trúc của N.Bourbaki" (1960)…
Trước cách mạng, chính Tạ Quang Bửu đã đưa phong trào hướng đạo dần thoát khỏi ảnh hưởng Pháp, để chống lại phong trào Ducouroy của thực dân. Đó là Trần Đại Nghĩa, nguyên kỹ sư trưởng chế tạo máy bay ở Pháp, lương mỗi tháng 22 lượng vàng, đã bỏ tất cả theo Bác Hồ về nước năm 1946 với cái vốn ngầm 11 năm bí mật nghiên cứu về chế tạo vũ khí (Pháp không cho người các thuộc địa học môn này): Trong khoảng 1 triệu tên sách ở thư viện, ông nhặt ra được 40 cuốn có thể nghiên cứu về vũ khí… để trong hoàn cảnh kháng chiến ở Việt Bắc, ông đã chế ra cả súng cối, bazôka, đặc biệt là súng không giật (SKZ), ta được biết: trên thế giới, ý tưởng về súng không giật được đề xuất gần như cùng lúc với ý tưởng về bom nguyên tử.
Cách chế tạo loại vũ khí này được giữ bí mật hoàn toàn, Trần Đại Nghĩa đã ngày đêm nghiên cứu loại vũ khí mới này. Khi thành công, sản xuất được hàng loạt, đã cung cấp một hiệu quả đánh giặc hết sức lý tưởng cho những người chỉ cơ động bằng đôi chân: loại vũ khí có thể vác vai lại có sức công phá ngang một khẩu đại bác nặng 6 tấn thép.
Người du tử Hàm Châu đã ghi lại cuộc lãng du trong thế giới các nhà vật lý mà nhân vật chính là Giáo sư Trần Thanh Vân. Tác giả gọi thiên ký sự của mình là "Đất Việt cuối trời xa", NXB Thanh niên ấn hành quý I-2007, hàm ý: Những trí thức Việt kiều yêu nước, họ cũng chính là những mảnh hồn Việt, đất Việt hiện hữu khắp bốn phương trời.
Trần Thanh Vân sinh năm 1936 tại Đồng Hới, thuở nhỏ học tiểu học, rồi trung học ở trong nước (Đồng Hới, rồi Huế). Sang Pháp năm 17 tuổi, anh lang thang kiếm sống ở thị trấn nhỏ Montargis, trước khi được theo học Đại học Sorbonne.
Là sinh viên xuất sắc, anh được cấp học bổng để dũng cảm lao vào một ngành khoa học mũi nhọn rất hiểm hóc của thế kỷ XX - vật lý hạt (particle physics), rồi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ quốc gia tại Đại học Sư phạm Paris.
Anh được chọn vào làm việc tại Trung tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học (CNRS) của Pháp. Từ năm 1966, anh có sáng kiến, cùng hai bạn đồng nghiệp Pháp, tổ chức các cuộc gặp gỡ hằng năm về vật lý hạt tại làng Moriond, bên dãy núi Alpes tuyết phủ, với cái tên Rencontres de Moriond (Gặp gỡ Moriond).
Tầm vóc các cuộc gặp gỡ ấy ngày càng lớn, tập hợp ngày càng đông các nhà vật lý lý thuyết và thực nghiệm trên thế giới, có cả những nhà bác học đoạt giải Nobel. Đây thật sự là những cuộc hội thảo triền miên đầy tình thân ái giữa các nhà vật lý, mỗi người tự trình bày phát kiến, rồi lắng nghe bạn bè chất vấn, phản biện để hoàn thiện công trình của mình.
Không thua kém chồng, nữ Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lê Kim Ngọc (thường gọi là bà Trần Thanh Vân) từng được các tờ báo lớn ở Pháp trang trọng giới thiệu về thành công của một "nữ bác học Việt Nam" khám phá ra quy luật của quá trình thực vật nở hoa, do đó, có thể tùy ý điều khiển quá trình ấy trong ống nghiệm.
Những dòng tít lớn chạy ngang suốt tám cột báo: Khi rễ cây nở hoa, Cuộc cách mạng trong thực vật học, Bắt phong lan nở theo đơn đặt hàng… Tờ Nature (Tự nhiên) xuất bản ở Anh, tờ tạp chí khoa học danh giá nhất thế giới, cũng đã ba lần công bố các công trình nổi bật của bà về thực vật học...
Trong một cuộc hội nghị khoa học quốc tế, Trần Thanh Vân gặp Nguyễn Văn Hiệu; thế rồi từ đấy hai nhà vật lý lý thuyết trở thành đôi bạn thân. Tình bạn giữa hai người dẫn đến việc tổ chức thành công sáu lần Rencontres du Vietnam (Gặp gỡ Việt Nam) về vật lý hạt và vật lý thiên văn tại Hà Nội và TP HCM, thu hút các nhà vật lý thuộc hơn 40 quốc tịch đến dự, góp phần kích thích sự trưởng thành từng bước của các nhà vật lý trẻ Việt Nam…
Sự nghiệp khoa học của đôi vợ chồng bác học ấy tưởng như thế đã đủ đóng góp cho đất nước và nhân loại, chút thời gian còn lại, nếu ông bà dùng để nghỉ ngơi thư giãn hay đi du lịch nơi này nơi kia thì cũng là điều thỏa đáng. Nhưng không!
Đôi vợ chồng ấy từ lâu vẫn canh cánh nghĩ đến những cháu bé mồ côi mà ông bà thường gặp mỗi khi về nước: "Chiến tranh đã kết thúc mấy chục năm rồi. Nhưng vẫn chưa hết - và có lẽ chẳng bao giờ hết - những trẻ mồ côi và cả những trẻ bị bỏ rơi ngay từ khi mới lọt lòng nơi nhà hộ sinh hay trên hè phố... làm sao có được tuổi thơ ấu hồn nhiên, trong trắng, vô tư lự. Các cháu ắt sẽ nhiễm phải những thói hư tật xấu nơi xó chợ hè đường…" .
Nghĩ vậy, nhưng giúp đỡ các cháu bằng cách nào? Cuối cùng, ông bà tìm ra cách: chọn một số tranh lụa của các họa sĩ Việt kiều vẽ cảnh làng quê Việt, in trên thiếp Giáng sinh. Rồi tự mình đứng bán những tấm thiếp ấy giữa trời đông tuyết giá bên nhà thờ Đức Bà Paris, vừa kiếm được tiền cứu giúp trẻ mồ côi, vừa giới thiệu được văn hoá Việt với người phương Tây.
Các báo Pháp viết bài về đôi vợ chồng bác học Trần Thanh Vân - Lê Kim Ngọc, khiến nhiều sinh viên người Việt và cả người Pháp tình nguyện xuống đường đứng bán hàng trăm nghìn gói thiếp Giáng sinh từ thiện. Lúc đầu phong trào rộ lên ở Pháp, về sau lan sang cả Mỹ. Mỗi gói 10 tấm thiếp bán 2 USD, lãi 1 USD. Hội Giúp đỡ trẻ em Việt Nam (AEVN) ra đời từ đấy. Số hội viên hiện có hơn 400 người.
Bà Trần Thanh Vân được bầu làm Chủ tịch Hội. Từng tấm thiếp nhỏ xinh thu hút những tấm lòng rộng mở, góp được triệu USD đầu tiên để xây nên ngôi làng trẻ em SOS Đà Lạt!
Và, để duy trì cuộc sống và mọi hoạt động của làng này, hằng năm còn phải rót thêm 100 nghìn USD nữa. Hình thức đó hiện đang phát triển, như Trung tâm Bảo trợ trẻ em Thủy Xuân ở TP Huế, cũng do AEVN xây dựng và duy trì nhiều năm qua.
Có thể nói, đôi vợ chồng bác học ấy song song tiến hành cả hai sự nghiệp: khoa học và nhân đạo. Sự tận tụy, lòng say mê của ông bà cuốn hút nhiều nhà vật lý nước ngoài và nhiều trí thức Việt kiều cùng hướng về Việt
Nhiều năm qua, nhà báo Hàm Châu đồng thời tham gia và ghi lại cả hai hoạt động sôi nổi ấy bằng cách viết cụ thể, sinh động, chuẩn mực về khoa học, trữ tình về văn phong, chỉ căn cứ vào những gì tự mình chứng kiến, tự mình chiêm nghiệm, gây được lòng tin ở bạn đọc.
Bên cạnh nhiều bài báo có giá trị khoa học và văn học, bên cạnh nhiều cuốn sách ông góp phần cộng tác, "Đất Việt cuối trời xa" là cuốn sách thứ sáu của riêng ông, sau những cuốn "Hiếu học và tài năng" (NXB Giáo dục, 1996), "Người trí thức quê hương" tập I và tập II (NXB Giáo dục, 2002 và 2005), "Trái tim trong tuyết trắng (NXB Lao động, 2004), "Gương hiếu học và tài năng trẻ", tập I và tập II (NXB Trẻ, 2005).
Với "Người trí thức quê hương" (I và II) ông khắc họa, ghi công cả một lớp trí thức Tây học đã dùng ánh sáng văn minh phương Tây, góp phần làm cách mạng giải phóng dân tộc. Với đề tài học sinh giỏi, ông lại góp phần kích thích những tài năng trẻ để họ trở thành những cột trụ xây dựng đất nước Việt
Những bài báo, những cuốn sách của nhà báo lão thành Hàm Châu đã ở tuổi 75 hầu như trang viết nào cũng đầy ắp thông tin, kiến thức, được trình bày súc tích mà vẫn trong sáng giản dị, thấm đẫm tình cảm tôn vinh những tài năng tinh túy của đất nước
