Người "nghe" tiếng cồng chiêng
Vừa gặp, tôi ớ ra, à, anh là người hay ngồi trong cái hòm tiếp sóng truyền hình của mỗi nhà để nói với người ta về các thứ đàn ca sáo sậu, âm nhạc truyền thống của Việt Nam. Tóc búi củ hành, xuyên qua là cái lông nhím mà người bạn rút trộm ở một quán ăn trên đường xa. Hiền cười, đôi mắt lành lành trên khuôn mặt chai sạn...
Anh tốt nghiệp đàn bầu hệ Sơ cấp, rồi Trung cấp Nhạc viện Hà Nội, chuyển qua lí luận bậc Đại học rồi dạy ở trường sáu năm (1990 - 1996). Chuyển về Viện, Hiền vẫn giảng dạy môn Âm nhạc dân tộc cổ truyền Việt Nam tại Khoa Sử Trường Đại học Khoa học - Xã hội và Nhân văn Hà Nội.
Đại ngàn trong phòng làm việc
Hiền bước tập tễnh vì hồi thanh niên bị tai nạn tàu điện, nhưng anh đi nhanh hơn tôi tưởng, hơn cả đám chúng tôi, vốn quen chạy thể dục hàng sáng. Anh đưa chúng tôi về phòng làm việc và mở máy tính...
Từ cái hộp đen - sản phẩm của công nghệ hiện đại, những âm thiêng của đại ngàn cổ xưa vang xa, tràn ngập... Những huyền tích trầm sâu trong hơi thở của màn đêm rừng già, tiếng ì ầm xa xa của thác cao và đá núi, tiếng hò reo, tiếng rú trong lễ đâm trâu, tiếng than khóc trong lễ bỏ mả, niềm hân hoan mừng mùa cơm mới, rượu cần nghiêng ngả, ché tuk ché tang va vào nhau lanh canh...
Hiền say sưa: Chiếc cồng lớn đen thui như con trâu mộng, núm của nó pha vàng mười. Đánh vào đó, rầm một cái... âm thanh chảy lãng đãng trong không gian... Những thang âm dồn dập, hoà quyện, cả giọng nói của Hiền nữa, tôi thấy chính anh cũng biến thành một dàn chiêng trong nắng gió đang tuôn trào dữ dội.
Cả một không gian hùng vĩ, cao vời vợi của trời xanh, sâu hút của vực thác, rộng rãi của đất đai và xa xôi, dài lâu của nghìn năm cao nguyên, đang ùa đến không ngừng trong gian phòng bé nhỏ.
Quăng mình theo âm thiêng
Hiền đã theo cồng chiêng giống như người ta nói về những kẻ trót ăn phải bùa bả của núi rừng.
Ngày đầu mẹ ốm, vợ đang bụng mang dạ chửa, sắp sinh, Hiền từ chối cuộc điền dã hệ trọng - có tính chất quyết định cho việc UNESCO công nhận Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên.
Nhưng rồi tháng 5 của hai năm trước, anh lên xe với các đồng nghiệp Viện Văn hóa Thông tin, giữa lỉnh kỉnh máy móc để đi sâu vào mùa mưa cao nguyên lết bết bùn. Cứ bước được một đoạn, họ lại phải lấy que gợt đế giày cho nhau. Có khi xe con bị sa lầy, phải nhờ xe tải vào kéo.
Một tháng cấp bách và ròng rã, đi và làm việc, từ Bắc tới Nam Tây Nguyên, qua bao nhiêu buôn, sóc, thu âm hàng trăm bài cồng chiêng, quay tư liệu các lễ hội, phỏng vấn, ghi chép tỉ mỉ, ăn nằm ở đậu dưới nhà rông, nhà dài, sẻ san với rừng núi khoáng đạt, với những con cái của đại ngàn: Chu ru, Mạ, Xê đăng Xteng, Jarai Aráp, Mnông Gar, Mnông Buđongnoong, Bana Concơđe, Êđê Kpar, Êđê Bir...
![]() |
| Âm vang lễ hội cồng chiêng Tây Nguyên. Ảnh: Hữu Toàn. |
Bắt đầu từ Lâm Đồng, sang Đắk Lắk, Gia Lai, xuống Kon Tum, Đắk Nông, trở về Đắk Lắk, quay lại Đắk Nông, lại Đắk Lắk, qua Gia Lai rồi xuống Quy Nhơn về Hà Nội. Một cuộc đi như bước chân vào huyền thoại. Khi trở ra, đoàn cán bộ trông giống bầy người rừng, đen đúa và hốc hác.
Bừng sáng trong cuộc lao lực
Ở Hà Nội, Hiền giam mình trong phòng kín. Năm tháng ròng không thứ bảy, không chủ nhật, hầu như chỉ toàn ăn cơm với mù tạt, mạch máu nổi rần rật như hai cái đũa bên thái dương. Nói chuyện với chúng tôi, tức là sau thời điểm đó một năm, những lúc cao trào, Hiền vẫn phải ngừng lại, đưa ngón tay lên giữ...
Năm tháng, Hiền làm được cái việc từ trước đến nay chưa ai làm nổi - là nghe, đo đạc thang âm, lập tổng phổ các bài cồng chiêng.
Anh chỉ lên màn hình, ở đó, từng khuông nhạc kéo ngang, những nốt nhạc nhảy nhót đều đặn, và âm thanh vẫn lang thang không ngừng. Bè trầm bò lan man, bè cao thánh thót, bè trung êm nhẹ, bè chính xuyên ngang vững chãi và hoà âm đi mênh mang...
Nhiều dàn chiêng được bồi thêm bởi trống trầm hùng, chũm chọe gai xóc xóc như nắm đinh trong hộp, và có cả những tiếng thét... Căn phòng nóng lên, người nghe muốn đứng dậy để đưa chân theo một chuyển động mơ hồ nhưng mạnh mẽ.
Hiền nói: Khoảng cách nghe xa hay gần, người nghe đứng ở khúc giữa, phía đầu hay cuối... đều nhận được hiệu ứng âm thanh khác nhau. Dàn chiêng đi theo đường thẳng, đi vòng tròn hay hình rắn bò... hiệu ứng đến tai người nghe cũng khác nhau. Đó chính là hiệu ứng âm thanh nổi rất thú vị.
Hiền còn giải thích, đại đa số các bài bản đều kết cấu theo mô hình cố định, gọi là những cấu trúc môđun hay cấu kiện đúc sẵn, vì thế mỗi dàn chiêng là một cây đàn lớn mà mỗi người chỉ đảm nhận một nốt, khi biểu diễn, cây đàn cứ trở đi trở lại những nốt đó theo một thứ tự đều đặn mà không ai quên vị trí của mình.
Và điều này nữa, chính nó càng làm cho Hiền nhọc, mỗi tộc hay nhóm tộc người lại thể hiện những thang âm khác nhau, các dàn chiêng cũng có số lượng nhiều ít khác nhau, có khi chỉ vài chiếc, có lúc lên tới 16, 17 chiếc... Không còn cách gì khác là phải nghe hết, thử hết.
Hỗ trợ cho anh là một chiếc máy đo thang âm mà con trai của Giáo sư Trần Văn Khê mến tặng. Nhưng máy thường đọc cả âm bồi của chiêng, gây khó khăn khi xác định âm chính, nên Hiền phải căn cứ trên dây rung và chủ yếu nghe bằng tai.
Năm tháng trời, mở máy, nghe, ghi chép, lúc nào cũng nghe, đêm, ngày, bất kỳ lúc nào có thể được, tổng cộng gần 100 cái cồng, chiêng, Hiền bị thông tai, loét dạ dày, đi ngoài ra máu, từ 70 cân to khoẻ, xong việc, Hiền tụt xuống 61. Thân hình cao lớn của anh khi ấy trông lòng khòng... Ngày 20/11, học trò đến cảm thông: "Cồng chiêng ăn thịt thầy!".
Chạy nước rút
Xong phần việc của Hiền thì tình hình đã cấp bách, hạn gửi bộ hồ sơ sang UNESCO ở Paris đã sát sườn. Anh lại hỗ trợ cùng đồng nghiệp vắt chân lên cổ để soạn, sửa, chỉnh lí tài liệu, phim, ảnh... cho bộ hồ sơ nặng 6 cân kịp lên máy bay sang Pháp.
Từ khi bắt đầu lên xe cho đến lúc hoàn thành mọi việc, đến ngày cồng chiêng vinh danh, và có lẽ sau này nữa, là cả một chặng đường rã rời mà tôi nghĩ, mai kia Bùi Trọng Hiền sẽ viết hồi ký, những trang giấy thấm đẫm nụ cười, nước mắt, buồn vui, lo toan, băn khoăn, sung sướng, và cả phẫn nộ...

