Nghĩ về thơ trong Ngày Thơ Thế giới 21-3
Mười năm trước (năm 1999) tại kỳ họp lần thứ 30 của Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Văn hóa và Khoa học Liên hợp quốc (UNESCO) đã quyết định tiến hành kỷ niệm Ngày Thơ Thế giới vào ngày 21-3 hàng năm.
"Thi ca - trong quyết định của UNESCO nhấn mạnh - có thể trả lời những câu hỏi gay cấn và sâu sắc nhất của con người hiện đại - nhưng để làm việc đó cần lôi cuốn càng đông càng tốt sự chú ý chung của xã hội tới với thơ. Ngoài ra, Ngày Thơ Thế giới cần tạo thêm điều kiện để mọi người biết nhiều hơn tới các nhà xuất bản nhỏ đã cố gắng mang tới cho độc giả những sáng tạo của các nhà thơ hiện đại, biết tới nhiều hơn những câu lạc bộ văn học đang làm hồi sinh truyền thống vĩnh cửu của ngôn từ thơ sống động lảnh lót".
Lần đầu tiên Ngày Thơ Thế giới đã được kỷ niệm tại
Thực ra, Ngày Thơ Thế giới chỉ là một cái cớ để những ai có tâm với Thơ thêm một lần tĩnh tâm lại rung động cùng với những vần thơ hay và với những nhà thơ, những người mà nói theo cách của đại thi hào Nga Aleksandr Puskin, "không phải là kẻ chỉ biết gieo vần".
Thi sĩ, đó không chỉ đơn thuần là một nghề hay một nghiệp. Đó là một thiên chức. Một danh nhân khác, Benjamin Johnson, từng nói, "Không phải ai viết ra thơ cũng là thi sĩ…". Bởi lẽ, thi ca - đó không chỉ là những câu chữ có vần điệu. Không ngẫu nhiên mà nhà thơ Tây Ban Nha Leon Felipe đã có lần trong cơn bi phẫn tư duy định nghĩa như sau về giá trị thi ca đích thực:
Hãy chẻ bài thơ ra từng từ một.
Vứt ngay thể loại,
điệu,
vần.
Cả ý cũng vứt đi, đừng ngại.
Rồi tãi từ ra gió.
Nếu khi ấy vẫn còn điều gì đó
thì đấy
thi ca!
Một nhà thơ chân chính không bao giờ lụy điệu, vần, và thậm chí cả những con chữ. Một nhà thơ chân chính không bao giờ lụy danh vọng, mặc dù chúng ta, như danh nhân Nguyễn Công Trứ từng viết, "Đã trót mang thân trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông…". Thi sĩ, nói theo cách của "chàng trai vàng" trong nền thơ Nga thế kỷ XX Sergei Esenin, "là người không xâm phạm vào sự thật của cuộc sống…".
Chân lý và sự hoàn mỹ của nghệ thuật thi ca, đó mới là sự thèm khát vô biên của những nhà thơ chân chính. Văn hào Pháp Victor Hugo đã có rất nhiều lý do để thốt lên rằng: "Thà tôi bị la ó vì những câu thơ hay hơn là được hoan tụng vì những câu thơ tồi…". Và thi sĩ sáng tạo nên những câu thơ không phải bởi những động cơ trần thế, đời thường mà vì những lẽ đời lớn lao và đôi khi, khó hiểu hơn và cũng cao quý hơn.
Nói cho cùng, theo cách của Platon: "Nhà thơ nếu muốn là nhà thơ chân chính thì phải sáng tạo ra huyền thoại chứ không phải đưa ra những lập luận…". Diễn giải ý tưởng này, nhà thơ
Em bảo: Anh là nhà thơ!
Thế thì sao nhỉ?
Thế giới thiếu gì thi sĩ.
Đám con gái thích thơ anh, em bảo.
Thế thì sao nhỉ?
Họ đọc xong đâu có tới hôn anh.
Em bảo: Anh đã nổi danh!
Thế thì sao nhỉ?
Hai ta trước sau vẫn chung một căn phòng.
Nhưng chắc anh được hơn mọi người, em bảo.
Đúng vậy, em.
Được bệnh huyết áp cao và đau đầu hơn tất cả.
Thiên hạ rồi nhớ tên anh, em bảo.
Em biết không,
Dưới hai tấc đất
Xung quanh toàn im lặng thôi.
Thế thì sao - em đỏ mặt nhìn anh -
Anh không thể nào không viết?
Em hiểu chăng,
Điều đó chính anh không biết.
Không đủ sức!
Viết đâu chỉ là việc của riêng anh.
Ai đó đọc,
Đọc,
Buộc anh phải chép!
Còn nhà thơ Hungari, Lajos Kassàk đã viết như sau về sứ mệnh của nhà thơ và của thơ:
Tôi phải cứu những gì còn có thể
vậy mà tôi lại
ngồi lì
như tảng đá
như con chim khổng lồ
con chim tôi đã làm bị thương hồi trẻ khiến máu chim đỏ
hồng cây cỏ lác.
Trong yên lặng mênh mang của thế giới vô danh
tôi viết những dòng thơ cùng một lúc tồn tại cả ở
hai chiều văn học
cả ở hai chiều của những định luật đã quen
của sự điên cuồng của bầy ngốc nghếch.
Đã có bao nhiêu ấn tượng cổ truyền
nhiều đến nỗi gần trở nên tuyệt đẹp.
Thơ tôi sinh ra không từ những bụi cơn mơ hoa lá đỏ xanh
rắc rối
mà từ những định luật hình học vô cùng cân đối
thơ tôi lột vỏ trái cây
dựng nên hình chiếu
giàn bầy đồ vật trong không gian
dọn những mảnh vỡ quá khứ
hứa hẹn tương lai tuyệt vời.
Đó chính thực là bản chất thơ tôi
nội dung từ ngữ
ý nghĩa của những lời tôi thổ lộ -
những lời thổ lộ giả như vô nghĩa -
đó chính là cơn mưa lửa trào tuôn
thành phố ồn ào
theo đúng luật của mâu thuẫn
cùng tồn tại
cùng lấp đầy
cả những phần thế giới vô danh
cả những phần đã rõ…
Giờ thì không chỉ trái tim ca
và không riêng lưỡi
dòng nước xanh tuôn tự mắt tôi
màu răng tôi trắng rắn
thân hình tôi với những đường cổ điển
bản thể hồn tôi không ai thấu được bao giờ
triệu triệu sợi tóc trên đầu tôi chen chúc
và mười ngón tay tôi
mười kẻ đồng lõa điên cuồng
như dàn giao hưởng
cùng một lúc vang lên
để báo về tôi
cho toàn thế giới.
Tôi hát
giữa nắng chói chang
trong vùng râm mát
cho những ai không may mắn được sinh ra
cho ai phải sống đời không may mắn
cho người mù
cho người điếc
cho người mất hết lòng tin
cho những nạn nhân thói hồn nhiên
cho những ai tự đỉnh cao lao mình vào cái chết
và cho những người không dám rời động tối mù đen.
Tôi sẽ hát
cho tới khi tự thăm thẳm hang sâu
số phận ai đó khác tôi vang lên thành tiếng vọng
tôi biết hướng thơ tôi
tới bờ
nơi quằn quại trong cơn đau sinh nở lòng mẹ của thời đại
chúng ta
nơi hạt giống rơi xuống đất nảy mầm
nơi kho vựa không chịu nổi khoá
nơi người chăn không bỏ rơi đàn súc vật
nơi con người nhận ra được nhau
cầm lên tay
dụng cụ
và nguyên liệu
để tạo nên
những dấu hiệu
của ý nghĩa cuộc đời
đỏ vì máu
đen bầm vì những thương đau...
