NSND Mẫn Thu: Còn ai tha thiết với tuồng?

Chủ Nhật, 05/07/2009, 20:15
Một lần NSND Mẫn Thu nói về sự tủi thân của mình trong các lần đi biểu diễn.Cùng được mời đi diễn nhưng những ca sĩ nhạc nhẹ có thể vào nhà hàng, khách sạn ăn uống thoải mái, chờ bao giờ đến lượt thì lên sân khấu. Còn các diễn viên tuồng thì ngồi vạ vật ngoài sân đợi xướng tên.

"Chưa bao giờ nghệ thuật tuồng bị sao nhãng như hiện nay. Có lẽ do xã hội phát triển, con người thực dụng hơn, lớp trẻ không thích và không hiểu nghệ thuật tuồng, điều đó không tránh được. Nhưng xã hội ta phải làm một việc gì đó đi thôi, kẻo mà tuồng cổ có nguy cơ biến mất". Nghệ sĩ nhân dân (NSND) Mẫn Thu, người đã gắn bó với tuồng hơn 40 năm tâm sự như vậy.

Trong ngôi nhà nhỏ của bà ở khu tập thể Nhà hát tuồng Trung ương (Mai Dịch - Hà Nội), bà luôn phiền muộn, bởi khán giả đến với tuồng ít quá, mà các diễn viên tuồng trẻ chẳng tha thiết với nghề.

1. Ngồi tâm sự với NSND Mẫn Thu, tôi tự hỏi mình rằng, các diễn viên trẻ vì sao chẳng tha thiết với tuồng? Điều này dễ dàng lý giải: Học tuồng phải trải qua khó khăn, khổ luyện mới thành tài. Khi học xong, nhiều diễn viên cũng chẳng "dễ thở" với nghề của mình. Vậy thì, cùng với tâm lý chung, học tuồng cho giỏi, cho thuần thục để làm gì khi mà ngoài kia, xã hội đang đầy những loại hình nghệ thuật sôi động khác?

Mẫn Thu là người đặc biệt hiểu điều đó, nhưng làm sao cấm được. Một mình bà, thậm chí cả Nhà hát Tuồng Trung ương, không muốn khán giả quay lưng lại với tuồng nhưng điều đó vẫn xảy ra. Và diễn viên không thể nhịn đói mà đi diễn. Ai cũng biết rằng, tiền bồi dưỡng cho một buổi biểu diễn của diễn viên tuồng rất rẻ mạt. Diễn viên chính được 50 nghìn, phụ được 20 nghìn cho mỗi buổi mà có khi họ phải vất vả từ chiều hôm trước đến sáng hôm sau.

"Nếu như nghệ sĩ hát chèo, có thể đi hát thêm những loại hình khác như xẩm, quan họ, dân ca để có thêm thu nhập, thì chúng tôi không thể làm được như vậy. Làm như thế sẽ mất giọng của tuồng. Đã hát tuồng là phải tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm ngặt. Không ăn cay, không uống lạnh dù nhiều khi rất muốn" - NSND Mẫn Thu tâm sự.

Còn nhớ một lần bà nói về sự tủi thân của mình trong các lần đi biểu diễn. Cùng được mời đi diễn nhưng những ca sĩ hiện đại bây giờ có chế độ sinh hoạt khác hẳn. Họ có thể vào nhà hàng, khách sạn ăn uống thoải mái, chờ bao giờ đến lượt thì lên sân khấu. Còn các diễn viên tuồng thì ngồi vạ vật ngoài sân đợi xướng tên. Diễn viên tuồng không theo được các nghệ sĩ và các diễn viên khác. Mẫn Thu bảo rằng, tiền cát-xê của diễn viên tuồng quá ít ỏi, họ chỉ chi tiêu quá tay một bữa là đi toi mấy tháng vất vả đi diễn.

Khuôn mặt Mẫn Thu đã hiển hiện rõ sự khắc nghiệt của thời gian. Thời xuân sắc của bà không còn nữa. Nó đã trôi đi cùng với thời thịnh vượng của nghệ thuật tuồng. Cái ngày mà bà đam mê, chỉ biết mỗi việc là cống hiến và cống hiến. Bà ước muốn giá ngày nay tuồng được coi trọng bằng một phần ngày trước, thì người theo nghề sẽ nhiều hơn. Sẽ vẫn có những diễn viên trẻ sống chết với nghề. Nhưng xã hội không bao giờ có cái "giá như", con người cũng chẳng ai đủ sức mạnh để tạo ra một cái "giá như" thế này và đừng thế kia. Tuồng cổ đáng được gìn giữ, nhưng chưa thực sự được quan tâm để nó có thể sống đàng hoàng và những nghệ nhân tuồng khỏi phải chạnh lòng.

Mẫn Thu từng nhiều chuyến đi diễn tuồng ở một số nước phương Tây, khi xem tuồng Việt Nam khách phương Tây thích thú ca ngợi. Họ thực sự bị cuốn hút bởi những vở cổ điển mà hình ảnh người diễn viên nhập vai say sưa, làm nên cái thần thái của nhân vật. Ví dụ một người diễn viên trên sân khấu không được bài trí sang trọng, chỉ có một cái phông. Anh ta chỉ cầm một cái roi ngựa và biểu diễn, khán giả ngầm hiểu anh đang điều khiển một con ngựa. Bằng những động tác điêu luyện, khán giả nhận ra đó có thể là một con ngựa hiền lành hay con ngựa bất kham, tất cả đều nhờ cái tài của người nghệ sĩ trên sân khấu.

Trong múa tuồng, có rất nhiều bộ: khai, xoang, xỏ, cầu, bê, kí, siến, lăn... ngoài ra múa còn phải sử dụng cùng đạo cụ: kiếm, thương, giáo, quạt, roi, ngựa, côn... Nghệ thuật tuồng sử dụng múa để thể hiện tâm trạng, tình cảm của nhân vật và người không lành nghề thì diễn chẳng bao giờ đạt. Phức tạp như vậy, khó khăn và nghiêm ngặt như vậy, để thành một diễn viên giỏi trên sân khấu. Và sẽ chẳng có gì khó hiểu khi các diễn viên tuồng ngày nay chẳng mấy người còn tha thiết với nghề, và đã bước chân vào thì chỉ coi đó là nghề phụ, còn tâm tưởng thì trôi dạt cùng với những ý đồ mưu sinh khác ngoài tuồng. Nhiều người nói thời thế nó sinh ra như vậy, nhưng lực bất tòng tâm.

2. NSND Mẫn Thu sinh năm 1943 ở làng Trác Bút, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Ông cụ thân sinh ra bà là một nghệ nhân tuồng ở địa phương. Từ nhỏ Mẫn Thu đã theo cha đi xem các đội tuồng nghiệp dư biểu diễn, dần dần tuồng đã ngấm vào người cô gái xinh xắn, hát có duyên mà sau này thành cái nghiệp của một nghệ sĩ tên tuổi.

Năm 1959, Nhà nước mở khóa đào tạo tuồng đầu tiên do một số nghệ nhân dân gian được mời về làm giảng viên. Mẫn Thu ngày đó yêu thích tuồng và nhờ ảnh hưởng của những nghệ nhân trong làng, Mẫn Thu đã biết diễn. Chính cha bà đã nhận ra tố chất của con gái nên vận động con đi học khi có người về mời. Cùng làng Trác Bút với Mẫn Thu thời đó có Diễm Lan, Chu Thị Thịnh đi học, sau này là những nghệ sĩ sáng giá một thời.

Với chất giọng trời cho và tình yêu tuồng, Mẫn Thu nhanh chóng nổi lên là một trong những sinh viên xuất sắc của khóa đầu tiên. Bà được các nghệ nhân nổi tiếng như NSND Bạch Trà, NSND Quang Tốn trực tiếp truyền nghề. Mẫn Thu tâm sự rằng, các thầy là những người đầy tâm huyết, luôn luôn bắt tay chỉ từng động tác múa, từng cái nhấc chân cho học trò. Nhiều vở cả thầy và trò cùng tham gia diễn, sau đó góp ý cho nhau.

Mẫn Thu ý thức rằng học thầy phải bằng nhiều cách, trong đó cách ngồi dưới chăm chú theo dõi thầy diễn trên sân khấu được bà lưu tâm, vì trên sân khấu các thầy thường diễn nhập tâm, xuất thần. Học được cái cách lúc thầy diễn xuất thần, trò sẽ giỏi. Sau này làm tốt nghiệp, Mẫn Thu đã vào vai Mộc Quế Anh trong vở "Mộc Quế Anh dâng cây", bà được các thầy đánh giá cao.

Tôi hỏi NSND Mẫn Thu rằng, để học được tuồng cần phải có tố chất gì? Chạm đúng vào "cái vốn" của bà, bà kể ra rằng cần phải có: thanh, sắc, thục, tinh, khí, thần. Bà giảng giải: "Thanh là giọng hát; sắc là hình thể, hình thể phải đẹp và hài hòa; thục là phải được học và đào tạo thuần thục; tinh là cái chất giọng, là người phải có được cái tinh hoa của nghệ thuật; khí là diễn viên phải có khí chất, tức là có dấu hiệu của tài năng; thần tức là khi nhập bất cứ vai nào, anh ta cũng phải thể hiện làm sao cho cái thần thái của nhân vật nó toát lên. Hội tụ đủ những yếu tố đó, là có một tài năng".

Mẫn Thu luôn dành nhiều tâm huyết để sống và hóa thân vào nhân vật. Rất nhiều vai diễn đã làm nên tên tuổi bà, ở cái thời mà nghệ thuật tuồng thịnh vượng. Những vai diễn như Mộc Quế Anh, Đào Tam Xuân, đô đốc Bùi Thị Xuân, Mỵ Châu công chúa là những vai diễn mà suốt đời bà không bao giờ quên. Những vai diễn đó không chỉ ấn tượng đối với khán giả mà cả với những đồng nghiệp, đến nỗi khi nhắc đến bà là người ta nghĩ ngay đến nhân vật.

Sự khác biệt đối với các loại hình nghệ thuật khác là, nhiều vai diễn dù muốn truyền lại cho người khác cũng không được, muốn truyền lại mà chẳng học sinh nào đủ tài để tiếp nhận. Mẫn Thu buồn rầu nói: "Vì tuồng khó quá, mà tài năng của các em chỉ được đến thế thôi. Học 6 năm ngành y có thể ra làm được bác sĩ, nhưng với thời gian ấy học tuồng, không phải ai cũng làm được diễn viên tuồng".

Vậy nên, có những vai diễn mà chẳng ai có thể thay thế được Mẫn Thu. Ví dụ vai Xuân Trầm trong trích đoạn Ngũ biến (trong “Lam Sơn khởi nghĩa”), Mẫn Thu mất đi thì không ai có thể thay thế được. Với nghệ sĩ khác cũng vậy, vai Đề Thám, không ai có thể thay thế được nghệ sĩ Đắc Nhã (Nhà hát Tuồng Trung ương).

 Những vai diễn cổ điển ấn tượng, găm sâu vào tâm tưởng Mẫn Thu, sau đó bà dạy cho nhiều người với tâm nguyện sẽ gìn giữ được những vở cổ điển. Trước đây bà thường xuyên tham gia các khóa đào tạo diễn viên trẻ. Những diễn viên như Minh Gái, Hương Thơm... là học trò, đều đã trở thành gương mặt tiêu biểu của sân khấu tuồng Việt Nam. Nay về nghỉ hưu, bà dạy ít hơn và tâm tưởng lúc nào cũng nghĩ đến tuồng. Căn nhà nhỏ được cơ quan phân mới nâng cấp lại. Sinh sống ở đó, bà vẫn dõi theo những người đồng nghiệp còn đang công tác và thông cảm với họ.

Nhà hát tuồng Trung ương có 2 đoàn, mỗi đoàn khoảng 30 người. Độ nào bà thấy họ rộn rịp, chuẩn bị để đi diễn bà cảm thấy vui hơn, còn diễn viên tuồng chẳng mấy khi đi xa, thì không chỉ cán bộ nhà hát buồn, mà bà cũng thấy buồn lòng.

3. Làng Trác Bút của Mẫn Thu từ xa xưa các cụ đã có thú chơi chim và thi chim bồ câu. Thú chơi đó vẫn được duy trì đến bây giờ và hàng năm vẫn có nhiều cuộc thi được tổ chức. Ông cụ thân sinh ra bà cũng có thú chơi này và là một người am hiểu luật chơi, bà cũng rất thích. Nhưng việc sinh sống ở Hà Nội không cho phép bà có mặt thường xuyên trong những cuộc thi chim. Tinh thần lạc quan, yêu văn nghệ đó của quê hương hun đúc nên tâm hồn bà, để bà vô tư theo nghiệp diễn.

Trong thời chiến, bà đi lưu diễn từ Bắc đến bờ sông Bến Hải. Đoàn của bà đi diễn để "tiếng hát át tiếng bom", để góp thêm tinh thần lạc quan, tinh thần chiến đấu cho nhân dân. Có những buổi diễn mà ở bên kia lính Mỹ bắn sang, các diễn viên tuồng vẫn say sưa phục vụ bà con. Nhớ lại cái thời hoàng kim của tuồng, những ngày lưu diễn trong tiếng bom đạn, Mẫn Thu thấy sao mà tuồng giá trị quá, để khi nước mắt rơm rớm nhớ nghề lăn ra, bà thấy mình không ân hận vì đã chọn tuồng làm lẽ sống.

Mẫn Thu sinh được hai con, cô con gái cả tên Thu Hương theo nghề mẹ, làm diễn viên được 15 năm thì vì việc gia đình nên phải nghỉ. Rất nhiều người của Nhà hát tuồng thấy tiếc một Thu Hương tài năng. Thu Hương nhập vai giỏi và có những vai chị diễn không ai có thể diễn hay hơn. Ông Khắc Duyên, Phó Giám đốc Nhà hát tuồng nói rằng, nếu Thu Hương còn theo nghề, thì bây giờ chắc chắn chị sẽ là phó giám đốc. Với người đàn bà giản dị của tuồng, những được và mất không còn quan trọng nữa. Bởi bà đã sống cho nghệ thuật và luôn mong mình giản dị. Ngay cả người chồng của bà, trước đây làm công tác hậu cần, tổ chức biểu diễn của Nhà hát cũng mong sống giản dị. Hai con người giản dị sẽ có một gia đình giản dị, họ có cách sống của riêng họ, niềm hạnh phúc của riêng họ.

Trong một cuộc nói chuyện của những người làm nghệ thuật, tôi được nghe chuyện về một gánh tuồng. Rằng nhiều buổi diễn, gánh tuồng chỉ kéo được lèo tèo vài người. Những anh hậu đài, bán vé vào cổng thì ngủ gật, những người hóa trang ngán ngẩm nhìn sân bãi vắng vẻ mà phiền, trưởng đoàn mặt nặng như chì đi đi lại lại. Nhìn thảm cảnh đó, ai dại gì ném tương lai mình vào tuồng.

Khi kể lại chuyện đó, Mẫn Thu cười, cái cười ngun ngún nước mắt của một người đang nhìn thấy cảnh người ta quay lưng lại với tuồng. Mẫn Thu bảo nếu Nhà nước quan tâm hơn, nhất là đối với chế độ cho diễn viên tuồng hơn, ít nhất họ cũng phải đủ sống để làm nghề thì tuồng cổ sẽ vẫn sống, sống một cách tốt đẹp. Chuyện sẽ đi đến đâu thì chúng ta vẫn phải đợi chờ

Nguyễn Văn Học
.
.
.