Mừng, lo mùa lễ hội

Chủ Nhật, 13/02/2011, 19:27
Đã là người Việt Nam, khi nhắc đến lễ hội, không người nào không thấy xốn xang, háo hức. Với các nghệ sĩ, lễ hội càng có sức cuốn hút mạnh mẽ. Khó có thể đếm hết các tác phẩm văn học, nghệ thuật từ Truyện Kiều đến tranh dân gian làng Đông Hồ nhắc đến lễ hội. Trong văn chương, nhiều nhà thơ như Nguyễn Bính, nổi tiếng về mô tả hồn quê trong lễ hội; có người lưu danh cùng hậu thế chỉ bằng một bài thơ lễ hội như Nguyễn Nhước Pháp.

Thường là sau Tết Nguyên đán là mùa lễ hội. Theo lịch thời vụ xưa, đến tháng ba mới "cày vỡ ruộng ra" nên hai tháng đầu năm được dành cho vui chơi, nghỉ ngơi. Vừa là dịp vui chơi, nghỉ ngơi, lễ hội còn là nơi giao lưu gặp gỡ sau một năm xa cách, từ đây gắn bó bạn bè, nên duyên chồng vợ. Trong một xã hội khép kín sau luỹ tre làng, lễ hội không thể thiếu. Nó cũng là nơi bày tỏ khát vọng của con người về cuộc sống, tôn vinh những người có công với dân với nước, thực thi những  qui ước tín ngưỡng… và vì thế, nó  là văn hoá phi vật thể, là kho báu nhiều lĩnh vực văn hoá, xã hội, tín ngưỡng. Từ ngày mở cửa, giá trị kinh tế, du lịch của lễ hội ngày càng rõ. Số khách du lịch tăng lên gấp bội vào mùa lễ hội. Chỉ riêng lễ hội chùa Hương, người ta dự kiến có tới 1,5 triệu du khách, cả trong nước và nước ngoài trong 3 tháng hội.

Lễ hội mang lại niềm tự hào cho đất nước. Nước Việt Nam không chỉ nổi tiếng về đánh giặc mà còn được thế giới biết đến qua hội chùa Hương, lễ hội đền Hùng, lễ hội Thánh Gióng, hội đua ghe ngo, lễ hội đền Kiếp Bạc, hội chợ Viềng, lễ hội đền bà chúa Sam… Có một thời gian lễ hội gần như bị cấm nhưng đó chỉ là  những ngày mùa đông tạm thời. Từ ngày đổi mới toàn diện đất nước, khát vọng của người dân về lễ hội như cây cỏ túa lên trong mùa xuân. Đầu thế kỷ này, Bộ Văn hoá - Thông tin thông kê có 440 lễ hội trong cả nước. Đến năm 2010, số lễ hội đã trên 800 và đến nay chắc con số đã hơn thế. Ấy là mới tính các lễ hội được cấp phép, số lễ hội trên thực tế phải đến số nghìn. Không chỉ tăng về số lượng, chất lượng lễ hội cũng được nâng lên. Hầu hết các lễ hội đã được mở rộng về phạm vi, nâng cấp nơi hành lễ, đầu tư dịch vụ ăn uống, đi lại. Ngoài các lễ hội cũ ngày nay đã và đang có thêm những lễ hội mới, ngày càng thu hút người hành hương.

Lễ hội là nét đẹp văn hoá, là một phần của đời sống người dân nên ngày càng phát triển và sự phát triển đó là cần thiết. Nhưng trong bối cảnh bùng nổ về lễ hội, cũng có không ít những nỗi buồn và cả nỗi lo. Trước hết, hầu hết lễ hội chỉ thích hợp với lịch mùa vụ nông nghiệp, không còn phù hợp với nhịp sống khẩn trương, tiết kiệm thời gian của hôm nay. Xưa một năm chỉ cấy 2 vụ lúa, khoảng thời gian từ tháng 10 Âm lịch (Tết cơm mới) tới tận tháng 3 năm sau là lúc đồng ruộng và con người nghỉ ngơi. Lễ hội và ngày Tết quan trọng nhất trong năm - Tết Nguyên đán - rơi vào khoảng thời gian này. Ngày nay, mọi công việc cả năm đều được xếp đặt theo năm Dương lịch là chính, cả từ ngày tháng trên giấy tờ, công ăn việc làm đến đồng tiền bát gạo, không còn theo năm Âm lịch nữa.

Không chỉ trong công nghiệp là lúc khẩn trương ngày đầu tháng đầu, ngay nông nghiệp, Tết Nguyên đán cũng là lúc cập rập thu hoạch vụ đông, làm đất gieo mạ vụ đông xuân. Giữa lúc ấy là nghỉ, là ăn chơi và đi hội. Cứ theo một câu ca dao cổ, hàng tháng ròng, ở riêng vùng Kinh Bắc thôi không ngày nào là không có hội, tốn hàng chục triệu ngày công lao động trong lúc ruộng hạn, mùa vụ khẩn trương. Thời gian đã tốn kém, bên cạnh đó về tổ chức cũng không ít luộm thuộm, khuất tất, ngay việc tăng đến chóng mặt lượng các lễ hội, phía sau nó cũng ẩn giấu những mục đích thương mại hoá và nhiều ý tưởng tiêu cực.

Không ít lễ hội gượng ép, chuẩn bị không chu đáo, sự hưởng ứng của người dân hạn chế. Lễ hội mang nặng tính chất của một hội chợ, nơi thu tiền dịch vụ ăn uống, nhà trọ, đi lại, trông giữ xe nhiều hơn văn hoá, lịch sử. Việc quản lý và phân chia tiền bạc sau lễ hội không tốt nên cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Phía quản lý đã thế, ý thức văn hoá của người dự hội cũng đang xuống cấp nghiêm trọng. Người phục vụ ăn uống, nghỉ đêm, đi lại "chặt chém" người dự hội không thương tiếc. Thực phẩm không an toàn, giá cả trên trời, đồ vàng mã, vật phẩm cúng lễ tràn lan, lãng phí không kể xiết.

Nhiều lễ hội, các tệ nạn sòng bạc, mại dâm, bói toán, mê tín dị đoan mọc lên như nấm. Người dự hội nói năng thiếu văn hoá, uống rượu say, đánh nhau gây thương tích, xả rác bừa bãi không còn là chuyện hiếm. Chỉ sau một ngày hội Gò Đống Đa, số rác rưởi, chất thải tăng gấp nhiều lần ngày thường, cây cối xơ xác. Người ta đã phải lên tiếng khẩn thiết báo động về tình trạng rác thải trên suối Yến và đường vào chùa Hương, mùi khai thối ở động Hương Tích, tình trạng thú rừng giả bán công khai trên đường đến chùa Thiên Trù.

Lễ hội những năm gần đây còn bộc lộ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo đến mức phản cảm. Lễ hội đền Bà Chúa Kho là một điển hình. Bên cạnh những người xe ôtô, quần áo, đồ trang sức choáng ngợp, mâm lễ hàng chục triệu vừa là cầu tài cầu lộc mê tín vừa khoe giàu sang là những người nghèo xơ xác. Đội quân ăn theo lễ hội từ cướp giật, móc túi đến ăn mày ăn xin ngày càng đông. May mắn chưa thấy đâu, những nạn nhân của nạn cò mồi, móc túi trong các lễ hội tăng dần hàng năm.

Để ngăn chặn nạn móc túi, phủ Tây Hồ (Hà Nội) đã lắp đặt 8 camera phòng trộm cắp, cử 9 người thường xuyên lên loa nhắc nhở nhưng tệ nạn này vẫn không giảm. Không chỉ lễ hội mà cả ngày rằm, mồng một nhiều đền chùa ở Hà Nội phải hợp đồng với lực lượng Công an, dân phòng để bảo đảm an ninh. Nạn ăn xin giả và thật, vừa lừa đảo, móc túi vừa làm phiền du khách ở các lễ hội cũng đang nhức nhối.

Lễ hội là của dân, vẻ đẹp của lễ hội cũng nhờ dân mà có. Lễ hội thánh Gióng ở xã Phù Đổng và đền Sóc, hát quan họ gắn liền với vài chục lễ hội quan họ ở các làng vùng Kinh Bắc đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại, ngay cả ca trù và sắp tới hát Xoan Ghẹo nếu được công nhận cũng gắn rất chặt với các lễ hội. Giữ được vẻ đẹp vốn có của lễ hội, không can thiệp một cách thô bạo vào các lễ hội đồng thời có giải pháp hợp tình, hợp lý để chống sự xuống cấp, chống việc lợi dụng lễ hội là việc khó nhưng thật cấp bách. Có thể có nhiều giải pháp nhưng suy cho cùng, giải pháp cốt lõi nhất vẫn là chống sự suy thoái về đạo đức, về văn hoá của những người có quyền và của cả người dân

Vĩnh Thy
.
.
.