Miếng ăn ngày ấy

Thứ Tư, 20/09/2006, 08:21

Tự nhiên, tôi lại nhớ. Và thèm. Nhớ về một miếng ăn và thèm một miếng ăn. Tuổi đã lớn lắm rồi mà nhiều khi cái nhớ, cái thèm cứ như trẻ con. Các cụ ta dạy: Quá khẩu thành tàn. Lời nhủ khuyên ấy về cái chuyện ăn không chỉ là chuyện ăn mà là chuyện về một lẽ sống.

Tôi cũng từng bị mẹ mắng, mẹ khuyên lúc nhỏ bằng câu ấy vì có bữa thèm ăn lại được ăn ít nên sinh ra khó tính, cằn nhằn. Lớn lên, đi chỗ nọ, chỗ kia, ăn Nam, ăn Bắc, dù cao lương mỹ vị đến mấy vẫn nhớ câu: "ăn trông nồi, ngồi trông hướng" mẹ khuyên để đến giờ khi đã bình yên về với thú nhà rồi vẫn được thanh thản nghĩ rằng mình không đến nỗi...

Vậy mà bây giờ lại đốc chứng: Thèm một miếng ăn, nhớ một miếng ăn!

Đường đi học ngày xưa, từ nhà tôi lên thị xã Sơn Tây dài những 18 cây số. Học sinh làng thường phải mang gạo nhà lên ở trọ thị xã để theo học. Thường là chiều thứ bảy mới được về quê đến chiều chủ nhật lại khăn gói tựu trường. Học trò cấp III người quê chúng tôi ngày ấy thường ăn cơm gạo đỏ trộn sắn khô. Thức ăn hàng ngày phổ cập là muối vừng, dưa củ...

Bát dưa củ, lưng cơm chiêm
Muối vừng chát bụng
những đêm học bài

Vậy mà vẫn học đêm, học ngày. Chỗ cột điện sáng đầu phố Cửa Tiền tối nào cũng loanh quanh mấy cô cậu học trò quê, tay cầm quyển vở đi đi lại lại miệng lẩm nhẩm ôn bài. Mắt dán vào chữ. Đầu óc chỉ lo không thuộc bài, chỉ sợ ngày mai kiểm tra bị điểm kém. Đêm đêm chỉ có nước lã uống lót lòng. Bụng học trò ngày ấy có thể sâu lạt được. Đói ăn là nỗi thường xuyên. Bữa no là nỗi ước ao như người nghèo gặp Bụt trong chuyện cổ tích. Khổ là vậy vẫn bấm bụng chịu vì mẹ còn khổ hơn, nhà còn khổ hơn.

- Năm nay mất mùa, gạo kém, mẹ mua sắn cho con ăn độn thêm. Còn đây... là tiền mẹ cho mua thức ăn tuần này.

- Con ăn cơm với muối vừng cũng được mà mẹ!

- Con cứ cầm thêm ít tiền rồi mua rau luộc thêm ăn xen vào cho đỡ xót ruột.

- Tiền tuần trước mẹ cho con vẫn còn mà...

- Thôi! Tiền ấy để chiều thứ bảy về qua Ba Cây mà ăn bát bánh đúc cua cho đỡ đói bụng...

Từ nhà tôi lên tỉnh học, đoạn giữa là một địa danh có tên là Ba Cây. Đây là một bãi đất rộng cạnh đường cái quan. Chỗ ấy có cỏ xanh làm thảm và ba cây cổ thụ mọc cao lá chen vào nhau. Thân cây làm dáng kiềng. Tán lá xanh khổng lồ ở trên cành đan vào nhau trông như một cái nồi khổng lồ bắc trên thân ba cây chụm lại. Dưới bóng mát của cây có túp lều nhỏ thấp lợp rạ. Lều rộng khoảng trên một tấm chiếu. Giữa lều là chiếc chõng tre, xung quanh lều là ghế tre mà chân ghế chân chõng lại được "làm" bằng đất. Chõng tre đặt trên vuông tường đất hình chữ U. Ghế tre cũng được rải trên bức tường đất bao quanh.

Có cảm giác cái quán nước như được dựng nên bằng đất đắp. Chủ quán là một cụ già đầu quấn khăn mỏ quạ. Cụ ngồi sau chõng tre. Bên phải cụ là nồi nước chè xanh ủ nóng. Bên trái cụ là nồi canh riêu cua. Đặt cạnh nồi canh là một rổ to rau diếp thái chỉ và một rổ bánh đúc cũng được thái nhỏ và mảnh được che bằng một vuông vải màn trắng…

Những chiều thứ bảy tan học từ Sơn Tây về đến Ba Cây bao giờ tôi cũng ghé vào quán nước của cụ già để tự khao mình bữa tiệc cuối tuần của một anh học trò nghèo. Miếng bánh đúc có riêu cua làm canh lùa qua miệng ngọt tận đáy lòng. Những gắp rau diếp thái ghém trộn vào canh càng ăn càng thấy mát ruột. Nói xấu hổ. Lúc ấy, một bát bánh đúc riêu cua tôi ăn vạt hết một góc rổ rau diếp của người bán hàng. Đói bụng mà, bát bánh thì có hạn nên lèn thêm rau cho chặt bụng. Bà cụ bán hàng chắc biết nhưng chẳng nói gì, thỉnh thoảng lại còn tiếp thêm rau cho tôi ăn nữa. Miếng ăn tham ngày ấy vẫn có người thương…

Chuyện cũ ấy, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ, vẫn thèm miếng ăn thuở cơ hàn là nghĩa làm vậy! Thương mẹ một đời lam lũ vất vả nuôi con, nhớ tuổi học trò cơ hàn và cái quán Ba Cây có bát riêu cua ăn cùng rau diếp mỗi chiều thứ bảy về qua để đến bây giờ… tôi vẫn như đang còn đi học

Phan Quế
.
.
.