Tác phẩm đầu tay hay sự khởi đầu nghiệt ngã:

Không sự khởi đầu nào là suôn sẻ

Chủ Nhật, 30/10/2011, 15:08
Dù tự nhận “không có sự khởi đầu nào suôn sẻ” nhưng nhà thơ Vương Trọng đã được in thơ trên báo Văn nghệ từ năm 1967 và 3 năm sau ông đã được giải Ba thi thơ báo Văn nghệ. Ông kể ngày về lĩnh giải: Lần đầu tiên trong đời tôi được ăn tiệc đúng nghĩa của nó ở một nhà hàng đặc sản ở Hàng Buồm. Và niềm sung sướng lớn hơn là lần đầu tiên tôi được diện kiến nhà văn Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên.

Trong cuộc sống đời thường, ông là một trong những nhà thơ điển hình cho kiểu ông Đồ Nghệ: giọng Nghệ đặc sệt (dẫu đã có tới nửa thế kỷ sống ở miền Bắc), thẳng thắn, bộc trực và không quen nói những lời hoa mỹ. Tuy nhiên, đọc thơ ông, lại thấy một thế giới khác của thi nhân: nhiều trăn trở nghĩ suy trước nhân tình thế thái, thơ ông thường là những giây phút nỗi lòng trắc ẩn của thi nhân  được dịp bộc bạch trước thế sự ngổn ngang. Ông chia sẻ: "Tôi yêu Đỗ Phủ hơn Lý Bạch, yêu Nguyễn Du hơn Hồ Xuân Hương. Bởi Đỗ Phủ, Nguyễn Du ngoài tài thơ ra còn có trái tim lớn biết đau nỗi đau của những cuộc đời bất hạnh. Thơ hay nhiều khi không còn thấy thơ đâu, mà chỉ thấy nỗi lòng, tâm trạng và số phận…".

- Thưa nhà thơ Vương Trọng, tính cho đến nay, gia tài văn chương của ông đã có tới hơn 20 tập sách cùng rất nhiều giải thưởng văn chương lớn như: giải thưởng cuộc thi Báo Văn nghệ, Giải thưởng Hội Nhà văn, Giải thưởng Văn học Bộ Quốc phòng, và đặc biệt, Giải thưởng Nhà nước đợt hai năm 2007… Để có một sự nghiệp thơ ca hanh thông như thế, hẳn là ông có một sự khởi đầu rất may mắn và suôn sẻ? Ông có nhớ gì về bài thơ sáng tác đầu tay của mình?

- Có lẽ hầu hết mọi người đều nghĩ rằng, tác phẩm đầu tay của một tác giả thường sẽ bắt đầu từ rất sớm và sẽ là một bài viết nào đó về thiếu nhi. Điều này cũng dễ hiểu, vì tuổi nào thì đọc sách đó và sự ảnh hưởng đối với mọi sự khởi đầu là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, đối với tôi, có một điều khác là tôi viết tác phẩm đầu tiên lại là về một bài thơ rất… ông cụ non! Vì tuổi thơ của tôi không có khái niệm về thơ thiếu nhi. Thầy giáo thường "nhặt, tìm" được bài thơ nào thì dạy học sinh bài thơ đó. Tôi nhớ rõ như in, những bài thơ, tập thơ đầu tiên trong đời tôi được đọc đó là "Truyện Kiều", "Chinh phụ ngâm", thỉnh thoảng được đọc thơ của Huy Cận, Nguyễn Bính… chứ không phải là những con vật thân quen của tuổi thơ…

Vì thế, bài thơ đầu tiên tôi làm năm học lớp 4, cũng ảnh hưởng theo dòng thơ "ông cụ" mà tôi đã được đọc. Tôi nhớ đó là bài thơ tôi làm về khe suối, khe suối có hai cái tên trái ngược nhau: Nhà Vàng (còn gọi là khe Bò Đái) ở núi Quỳ Sơn quê tôi. Đó là một con suối trong và sạch nên người dân thường tắm và giặt quần áo ở đó. Bài thơ của tôi như một bài Vịnh về cái khe suối ấy (như giọng một ông cụ về hưu): "Chênh vênh sườn núi Quỳ Sơn/ Có khe Bò Đái nước tuôn đời đời/ Những người lữ khách xa xôi/ Muốn xem cảnh đẹp xin mời vào đây/ Nước khe róc rách chảy đầy/ Lòng ta vui với khe này khe ơi/ Những ngày tía rụng hồng rơi/ Ta đi xa lánh cuộc đời vào đây/ Nhìn xem thấy cảnh đẹp này/ Yêu quê hương giữa bao ngày đau thương".

Sau bài thơ này, lên cấp II tôi lại tiếp tục làm thơ lục bát, thơ thất ngôn bát cú và gửi đi các báo trong tỉnh. Tôi còn nhớ lần đầu tiên nhận được giấy thông báo đã nhận được bài thơ về phong trào làm phân xanh (không nhớ cụ thể đầu đề) do báo Nghệ An gửi về. Bài thơ chưa được in mà chỉ mới là thông báo của tòa soạn, sau đó cầm tờ báo nhìn thấy tên mình trong mục hộp thư mà đã sung sướng hết chỗ nói. Đó là lần đầu tiên tên mình được viết bằng chữ in mà đã sung sướng mân mê tờ báo suốt cả ngày. Tuy nhiên, đối với tôi một bài thơ mà tôi cảm thấy tâm đắc nhất đầu tiên và có ảnh hưởng cả đến một chặng đường thơ giai đoạn những năm kháng chiến của tôi lại là bài thơ "Nhà mẹ", được in trên Báo Văn nghệ (Hội Nhà văn) năm 1967.

- Ông còn nhớ nội dung bài thơ đó chứ ạ?

- Tất nhiên tôi nhớ chứ. Đó là một bài thơ đậm chất kháng chiến nên viết về cái chung, về người lính, về bom đạn. Trong bài thơ này, tôi đóng vai một anh bộ đội giải phóng: "Căn nhà nhỏ bước vào thềm phải cúi/ Mái gianh khô xám ngắt những chiều đông/ Mo cau cắt mẹ dọi ngày mưa dội/ Đêm liếp thưa gió lách lạnh bên hông/ Mẹ bảo nhà ta mấy đời khổ cực/ Kiếp cha ông không tấc đất cắm dùi/ Bát cơm độn chưa đầy ai nghĩ tới/ Một mái nhà ngói đỏ như nhà ai/ Tuổi mười bảy con đi tìm giải phóng/ Ruột tựa bên hông nửa bắp nửa mì/ Mẹ tiễn con lưng còng lối nhỏ/ Nhà chống rèm trông mỗi bước con đi…".

Hồi đó tôi đang công tác ở Cục Quân báo nghiên cứu mật mã, sơ tán lên chân núi Ba Vì, khi nhận được tờ Báo Văn nghệ thì mừng vui vô cùng. Bài thơ rõ ràng đã thuộc làu làu rồi nhưng tôi gần như không bao giờ rời nó, ngay cả lúc ngủ có khi cũng úp lên mặt hoặc kê dưới gối. Hồi đó nhuận bút được 7 đồng (mà giá của 1 bát phở hồi đó khoảng 3 hào) tôi đã cùng anh em trong đơn vị đi vào trong dân mua sắn, chuối, mía để chiêu đãi anh em. Đó là một cú hích để tôi tiếp tục đi trên con đường văn thơ của mình. Là động lực để tôi gửi và được đăng chùm thơ 5 bài dự thi là "Bài thơ nằm võng", "Hội vật quê tôi", "Hoa trẩu", "Cô gái nuôi ong", "Bí" in trọn một trang trên Báo Văn nghệ (năm 1969-1970) và được giải 3 cuộc thi thơ năm ấy (Phạm Tiến Duật được giải nhất).

Hồi đó, khi tôi một lúc được in cả 5 bài thơ thì ở Tòa soạn Báo Văn nghệ muốn khẳng định lại một lần nữa xem có phải tôi chính là tác giả của chùm thơ không nên đã cử nhà thơ Phạm Hổ viết thư về đơn vị hỏi "Có đúng đồng chí ở hòm thư này hay không thì trả lời cho chúng tôi biết!". Sau này gặp nhà thơ Phạm Hổ, ông có giải thích với tôi rằng vì sợ những kẻ cơ hội lấy tên giả để che mắt BGK.

- Thực ra thì dường như con đường văn chương của ông khá  suôn sẻ (dù trên thực tế mà nói, Toán học mới là  "môn" chính thống của ông), ông có thơ in trên báo từ rất sớm lại được vinh danh ở một giải thưởng lớn nhất thời bấy giờ

- Thực ra, không có sự khởi đầu nào là suôn sẻ. Nhất là đối với tôi, học toán đi làm thơ. Hồi đó, khi được mời về nhận giải thưởng, lòng tôi phấn chấn lắm, không thể gọi thành tên được cảm giác của mình lúc ấy, như thể mình được bước vào một cung điện trang hoàng, lộng lẫy vậy. Rất nhiều NXB và các Hội đón những người được giải. Và lần đầu tiên trong đời tôi được ăn tiệc đúng nghĩa của nó ở một nhà hàng đặc sản ở Hàng Buồm. Và niềm sung sướng lớn hơn là lần đầu tiên tôi được diện kiến nhà văn Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Chế Lan Viên.

Buồn cười nhất là thời điểm Ban tổ chức thông báo giải thưởng cho giải nhất của nhà thơ Phạm Tiến Duật là một cái đài Orionton (Đài Orionton hồi đó còn quý hơn cả vàng, giá 400 đồng, trong khi đó giải nhì là 100 đồng và giải 3 là 85 đồng), vì cái đài không thể chia được, đành phải để phần thưởng giải nhất quá cao so với những giải khác! Thời điểm trao giải thưởng, Phạm Tiến Duật đang ở Trường Sơn không ra nhận giải được nên nhà thơ Ngô Văn Phú nhận hộ. Đến năm 1973 tôi gặp Phạm Tiến Duật ở chiến trường hỏi chuyện về chiếc đài thì anh ấy nói rằng: "Đài đến tay mình thì hỏng mất rồi, có nghe được nữa đâu!". Cũng trong thời gian này, NXB Quân đội Nhân dân có viết thư mời tôi gửi bản thảo (25 bài) để in chung tập "Thơ người ra trận" cùng nhà thơ Nguyễn Đức Mậu.

Bìa sách của nhà thơ Vương Trọng.

- Thời gian này, ông thành công với mảng đề tài về chiến tranh và người lính nhưng sau này, thơ ông chuyển qua một mảng đề tài khác: thơ thế sự. Điển hình là bài "Bên mộ cụ Nguyễn Du", "Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc"… Ông có thể kể lại quá trình thay đổi của giọng thơ mình?

- Bài thơ "Bên mộ cụ Nguyễn Du" tôi viết vào ngày 7/3/1982. Tiết Thanh minh tháng 3 năm ấy, tôi và một số anh em văn nghệ sĩ đến thăm và đứng trước mộ cụ Nguyễn Du mà không cầm nổi nước mắt. Tôi vốn yêu và thuộc làu làu Truyện Kiều từ khi còn nhỏ nên đứng trước mộ cụ với những sự thật tôi tả trong bài thơ đã khiến nỗi xót xa dâng lên gấp bội: "Tưởng rằng phận bạc Đạm Tiên/ Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây/… Một vùng cồn bãi trống trênh/ Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề.../ Không vầng cỏ ấm tay người/ Nén hương tảo mộ cắm rồi, lại xiêu". Có nhiều người cho rằng, đây là một bài thơ "đổi mới" sớm, vì đã bày tỏ một nỗi niềm xa xót trước một tài năng và nỗi bất bình đối với thực tế nhìn thấy một ngôi mộ chả khác gì ngôi mộ vô danh ở chốn này. Sự thực lúc ấy, tôi không cắm nổi một nén hương trên nấm đất cằn cỗi trống không, nơi đại thi hào Nguyễn Du yên nghỉ.

Khi bài thơ "Bên mộ cụ Nguyễn Du" được nhà thơ Phạm Tiến Duật biên tập và cho in trên Báo Văn nghệ thì một số người tiếp nhận bài thơ dưới góc độ một bài báo, có quan chức địa phương bảo rằng bài thơ đã nói xấu quê hương Nghệ Tĩnh và tìm cách loại bỏ nó ra khỏi những bài thơ viết về Nguyễn Du. Nhưng đó lại là bài thơ có sức sống nhất. Chẳng hạn sau này Nhà xuất bản Giáo dục đã in lại nhiều lần trong nhiều tập sách viết liên quan đến thi hào Nguyễn Du đều có bài thơ này của tôi... Mừng hơn nữa là ý nguyện của riêng tôi cũng như nhiều con cháu cụ và những người yêu "Truyện Kiều": "Bao giờ cây súng rời vai? Nung vôi chở đá tượng đài xây lên"... Bây giờ thì nơi yên nghỉ của Đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành khu tưởng niệm, khu bảo tàng rộng rãi và đẹp. Còn phần mộ của cụ đã được xây lên khang trang để du khách trong nước cũng như quốc tế đến tham quan.

Còn bài "Lời thỉnh cầu ở Nghĩa trang Đồng Lộc" tôi cũng làm trong một chuyến tới thăm mộ 10 chị thanh niên xung phong đã hy sinh tại nơi đây. Những xúc động trong tôi lại trỗi dậy trong câu chuyện kể về sự hy sinh anh dũng của các chị, tôi đã viết lên bài thơ này: "… Ngày bom vùi tóc tai bết đất/ Nằm xuống mồ rồi mái đầu chưa gội được/ Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang/ Cho mọc dậy vài cây bồ kết/ Hương chia đều trong hư ảo khói nhang". Sau này, theo ý nguyện của nhiều người, những người quản lý di tích đã  trồng 2 cây bồ kết xanh tốt bên khu mộ 10 cô gái thanh niên xung phong. Hơn cả mong đợi của tôi, bài thơ "Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc" cũng đã được khắc trên đá kèm bản dịch sang tiếng Anh của ông Trần Đình Hoành - một dịch giả Việt kiều ở Mỹ để du khách toàn thế giới đến nơi đây sẽ hiểu hơn về nỗi lòng của người Việt Nam với những người đã hy sinh tuổi trẻ và máu xương để làm nên chiến thắng của dân tộc.

- Ông là một nhà thơ viết thành công nhiều đề tài, và dường như với mỗi đề tài, trong cách tư duy logic của một người học chuyên toán, ông đều tìm ra cho mình một "công thức" để thành công, ngay từ những tác phẩm đầu tay. Vậy theo ông, để có một bài thơ hay thì nhà thơ nên có những điều kiện "cần" và "đủ" là gì?

- Tôi không thể tìm ra "công thức" nào để cho thơ hay! "Cần và "đủ" trong toán không dễ gì áp dụng được vào thơ, vì cái hay của thơ cũng nhiều kiểu và nhà thơ thì "mỗi người một vẻ". Đối với tôi, các thể thơ truyền thống là hết sức quan trọng. Nhiều khi tôi tự hỏi: nếu gạt bỏ các thể thơ truyền thống, thơ Việt Nam có còn là thơ nữa không? Bởi vì tính hiện đại của thơ không phụ thuộc vào hình thức biểu đạt, mà phụ thuộc vào cách nhìn, cách nghĩ của nhà thơ. Thơ hay là thơ được nhiều người ưa thích. Ít độc giả là nhược điểm của thơ chứ không bao giờ là mục đích sáng tác của nhà thơ chân chính…".

- Xin cảm ơn nhà thơ Vương Trọng!

Trần Hoàng Thiên Kim (thực hiện)
.
.
.