Hồ Tây trong lịch sử Thăng Long

Chủ Nhật, 05/10/2014, 15:29
Đã từ lâu trong dân gian vẫn truyền tụng câu nói: “Địa vô Tây Hồ, Thăng Long bất thành đô”, (có nghĩa đất không có Hồ Tây, Thăng Long không thành kinh đô).

Như vậy đủ thấy Hồ Tây có vai trò quan trọng ra sao đối với Thủ đô Hà Nội về nhiều phương diện ( cảnh đẹp, du lịch, điều hòa sinh thái, kinh tế…) Con hồ này cũng chứa chất nhiều huyền thoại ly kỳ theo chiều dài lịch sử. Qủa  là một báu vật do thiên nhiên ban tặng cho Thủ đô. Và triều đại nào cũng cố gắng khai thác hồ Tây theo tầm nhìn chiến lược riêng, bởi sau những đổi thay, phát triển của lịch sử, dòng sông Hồng đã tạo nên cái hồ độc nhất vô nhị này.

Với diện tích bề mặt lên tới 500 ha, hồ Tây đứng đầu bảng trong số các hồ ở kinh thành Thăng Long - Hà Nội về cả 2 phương diện bề rộng và cảnh đẹp. Đó là một lá phổi khổng lồ điều hòa không khí trong lành cho xứ ngàn năm văn vật. Tấm gương soi lung linh huyền ảo này đã là một thắng cảnh thiên nhiên kỳ thú không ở đâu có. Người nước ngoài đã nói với nhau: Đến Thủ đô của Việt Nam mà chưa đến ngắm Hồ Tây thì kể như là chưa biết gì về Hà Nội.

Với vẻ lãng mạn, thơ mộng hiếm thấy, hồ Tây luôn là một đề tài để các thi nhân, mặc khách bao đời chiêm ngưỡng, tạo nên những vần thi ca đặc sắc, muôn đời còn lưu truyền mà mấy câu sau đây không ai là không biết:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ , canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ

Trong nền văn nghệ hiện đại, Hồ Tây cũng luôn được các văn nghệ sĩ khai thác với những cảm hứng trữ tình, dạt dào nhất. Ca khúc nổi tiếng Một thoáng Tây Hồ của nhạc sĩ Phó Đức Phương là một minh chứng :

Mênh mông hồ
Sương thu tan trong gió
Bát ngát trăng ngân một khoảng trời…

Và:

Đây Dâm Đàm, đây Lãng Bạc
Ngàn thu qua bao lần sóng gió
Tây Hồ, Tây Hồ
Kìa mặt gương xanh soi bóng
Trời Thăng Long xưa còn mãi tiếng vọng đu đưa…

Nhìn về quá khứ, với vai trò và vẻ đẹp đặc biệt của Hồ Tây mà các triều đại phong kiến đều chú ý khai thác giá trị, đồng thời quan tâm tô điểm diện mạo và luôn lấy nơi đây làm trung tâm nghỉ mát, vui chơi, giải trí. Các công trình lớn được các vua chúa cho xây ở nơi đây ( cung Dâm Đàm, Thúy Hoa, Từ Hoa, Quan Ngư ở thời Lý, điện Hàm Nguyên, cung Ngọc Đài ở thời Trần. Rồi thơì Lê- Trịnh có điện Thụy Chương và 8 cảnh đẹp: đàn thề Đồng Cổ, bến Trúc Nghi Tàm, Sâm Cầm, rừng bàng Yên Thái, đồng bông Nghi Tàm, tiếng đàn Hành Cung, chợ đêm Khán Xuân…) Tất cả những thắng cảnh này đều được các bậc đế vương, thi nhân, tài tử, giai nhân dập dìu đến đây vui chơi, thưởng ngoạn, bơi thuyền, uống rượu, ngắm hoa, ngắm trăng, coi như một chốn du lịch chẳng khác gì tiên cảnh.

Đừng tưởng chỉ bước sang thế kỷ 21, ở nước ta mới có hình thức tổ chức các FESTIVAL giành cho các địa phương, mà từ thế kỷ 18, chúa Trịnh Sâm đã là người đầu tiên khởi xướng Festival Hồ Tây. Đó là khoảng những năm Giáp Ngọ, ất Mùi ( 1774 – 1775), vị chúa này thích rước đuốc, chơi đèn, ngự ở các ly cung trên Tây Hồ. Sinh hoạt như sau: Mỗi tháng 3 - 4 lần, chúa Trịnh Sâm ra cung Thụy Liên trên bờ Hồ Tây, lính tráng, đệ tử dàn quân đứng vòng quanh hồ. Hàng bách hóa được bày la liệt xung quanh hồ để bán cho dân chúng. Các trò chơi dân gian và âm nhạc được diễn tấu, không khí rất vui vẻ náo nhiệt. Ai nấy đều hân hoan, tung hứng. Trung tâm âm nhạc là ở hồ Trấn Quốc. Âm thanh vang lên rất huyền diệu, dư âm thánh thót, kỳ diệu khắp cả vùng. Sau thời chúa Trịnh Sâm, không hề thấy hình thức Festival như thế được tổ chức nữa.

Ở Thăng Long còn nhiều hồ khác nhưng không có nơi nào như Hồ Tây, lại có nhiều di tích danh thắng ở xung quanh. Nơi đây đã có tới 21 di tích đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là di tích quốc gia, với nhiều văn vật có giá trị lớn. Đó là hàng trăm bia đá, hoành phi, câu đối, pho tượng bằng đồng, gỗ, đá, chuông cổ, sắc phong thần… Tất cả đều được đặt ở những vị trí độc đáo theo huyệt đạo phong thủy. Hầu hết những di tích đều có giá trị cao về kiến trúc và rất đa dạng, phong phú về các chủng loại ( đình, chùa, đền, phủ, miếu). Ta có thể thấy những chùa nổi tiếng với kiến trúc mang giá trị nghệ thuật đặc biệt. Trước hết là chùa Trấn Quốc, một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Việt Nam. Chùa có từ thời Lý ( 544 -548), cách đây đã gần 1500 năm. Lúc mới xây dựng, chùa có tên là Khai Quốc. Thứ đến là chùa Kim Liên, mang rõ dấu ấn kiến trúc thời Lê – Trịnh cũng rất đáng chú ý. Rồi ở thế kỷ 11, 12, dưới triều Lý, nhiều chùa có quy mô lớn đã xuất hiện: Phổ Linh, Tào Sách, Thiên Niên, Tinh Lâu, Thông Thiên động. Đến thời Trần có đình Yên Phụ. Thời Lê – Trịnh xuất hiện phủ Tây Hồ, luôn tấp nập người đến vãn cảnh, cúng lễ đến ngày hôm nay.

Trong “Thăng Long tứ trấn” thì có 2 công trình đặc biệt. Đó là đền Quán Thánh (chứ không phải là Quan Thánh như nhiều người lầm tưởng), còn có tên là Trấn Vũ quán, ở khu vực phía Bắc và đền Thủ Lệ, còn gọi là đền Voi Phục ở phía Tây Hồ Tây. Đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ Đại Đế là một trong những vị thánh kiệt xuất của đạo Lão có công trừ tà ma, yêu quái, bảo vệ cuốc sống bình yên cho muôn dân. Đền này ngày xưa có khuôn viên rất rộng, kéo dài tới phố Châu Long, về sau dần dần được thu hẹp lại như ngày hôm nay.

Có thể nói quần thể Hồ Tây là một vùng văn hóa độc đáo. Hằng năm trên địa bàn quận Tây Hồ có tới 14 lễ hội truyền thống, in dấu ấn độc đáo của những đặc điểm riêng về văn hóa của vùng đất này.

Trong lịch sử nước ta, người đầu tiên phát hiện ra Hồ Tây chính là Lạc Long Quân, vị vua đã mở đầu cho triều đại Hùng Vương, đồng thời là người cho khai khẩn, mở rộng thành trù phú, sầm uất, nên thơ cho Hồ Tây. Qua các thời đại của lịch sử Thăng Long, gắn với công cuộc khai khẩn, lập trại ấp của nhân dân, hồ Tây ngày càng được hoàn thiện với rất nhiều giá trị về văn hóa, kinh tế, du lịch… Nhưng phải đến thời Lý, Hồ Tây mới được quy hoạch tổng thể với quy mô lớn và độc đáo bằng việc tạo ra 13 làng nghề chuyên canh riêng biệt như: hoa cây cảnh ở Nghi Tàm, Ngọc Hà, quất ở Tứ Liên, Quảng Bá, đào ở Nhật Tân, Phú Thượng, cá cảnh ở Yên Phụ, trồng dâu, nuôi tằm ở Nghi Tàm, dệt lụa, the ở Bưởi, trồng thuốc nam ở Đại Yên, đúc đồng ở Ngũ Xã…

Hồ Tây đẹp là thế, có giá trị nhiều mặt, có vị thế về du lịch và di tích lịch sử là thế nên hôm nay việc “ đối xử” với Hồ Tây để nơi đây vẫn phát huy được những thế mạnh vốn có, vẫn phục vụ được nhu cầu mở mang kinh tế, phục vụ dân sinh thời hiện đại là cả một vấn đề lớn, đòi hỏi trí tuệ không nhỏ của chính quyền và nhân dân. Dẫu phát triển những công trình lớn phục vụ đời sống ở khu vực hồ Tây có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao mà xâm hại đến cảnh quan, vẻ đẹp kiều diễm hàng bao đời ở chốn này cũng không thể chấp nhận được, vì người dân Thăng Long – Hà Nội không dễ chỉ vì mục tiêu làm giàu mà gây tổn hại đến một địa danh linh thiêng, in dấu ấn phong cách, tâm hồn, văn hóa, tâm linh của người Thủ đô hàng bao đời. Sẽ là có tội với lịch sử, với Thủ đô ngàn năm văn hiến nếu chúng ta làm phương hại đến chốn thiêng liêng này

Nguyễn Hưng
.
.
.