Tính dân tộc trong phim truyện Việt Nam:

“Đi đến cái tận cùng của ta, sẽ gặp nhân loại”

Thứ Bảy, 31/08/2013, 09:33
Hơn nửa thế kỷ trước, những tác phẩm điện ảnh “Chung một dòng sông”, “Chị Tư Hậu”, rồi “Cánh đồng hoang”, “Bao giờ cho đến tháng mười” đều mang đậm bản sắc dân tộc. Thế nhưng giờ đây, nhiều người đang lo ngại trước việc phim truyện Việt Nam thiếu tính dân tộc do tiếp thu văn hóa nước ngoài thiếu chọn lọc và thiếu bản lĩnh. Cần giải pháp khắc phục tình trạng này để quay lại với những giá trị vốn có là mục tiêu của Hội thảo “Tính dân tộc trong phim truyện Việt Nam” do Hội Điện ảnh Việt Nam, Hội đồng Lý luận phê bình văn học nghệ thuật Trung ương và Trung tâm Nghiên cứu-bảo tồn, phát huy văn hóa dân tộc Việt Nam tổ chức ngày 30/8, tại Hà Nội.

Hơn 20 ý kiến của các nhà điện ảnh, nghiên cứu và quản lý tại hội thảo đã cho thấy mối quan tâm lớn đối với tính dân tộc trong phim truyện Việt Nam. Bởi bản sắc văn hóa trong tác phẩm nghệ thuật như tín hiệu để thế giới nhận biết về dân tộc mình, qua vấn đề của dân tộc, tư tưởng, tâm lý và lối sống của dân tộc được cụ thể hóa tính cách con người và hoàn cảnh khác nhau. Những tác phẩm kinh điển của điện ảnh Việt Nam lại được nhắc tại hội thảo như những chuẩn mực về vấn đề này: “Chung một dòng sông”, “Vĩ tuyến 17 ngày và đêm”, “Vợ chồng A Phủ”, “Con chim vành khuyên”… Những đỉnh cao nghệ thuật đó chỉ có thể là sự thăng hoa của một nền điện ảnh phim truyện đã cắm rễ sâu trong cội nguồn văn hóa dân tộc.

Theo nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát, tính dân tộc được thể hiện rõ nhất qua 4 đặc trưng: bối cảnh, tính cách nhân vật, khát vọng vươn lên và thủ pháp thể hiện. Xem phim “Cánh đồng hoang”, thế giới nhận ra ngay đất nước Việt Nam qua những cảnh thiên nhiên độc đáo: cánh đồng lúa nước, cánh rừng đầy sông lạch, ngôi nhà nổi với những sinh hoạt đời thường; hay nhận con người Việt Nam qua những bộ bà ba giản dị, chiếc khăn rằn quấn cổ - những khác biệt tôn lên tính dân tộc thật nhiều. Sự hy sinh vô bờ bến trong “Bao giờ cho đến tháng mười”, hay tính cộng đồng trong “Ngã ba Đồng Lộc” là nét tính cách đặc trưng của người dân Việt Nam và đó chính là những biểu tượng cao cả của tính dân tộc trong phim.

Một cảnh trong phim “Cánh đồng hoang”.

Thế nhưng, giờ đây một trong những bậc thầy của điện ảnh Việt Nam, NSND Đặng Nhật Minh phải lo âu: Xu hướng thương mại đang thịnh hành đã làm lu mờ tính dân tộc trong phim Việt Nam vốn có. Ở đâu đồng tiền chi phối, ở đó không có nghệ thuật và dĩ nhiên, không có tính dân tộc. Khi một số nhà làm phim bê lên màn ảnh đủ mọi thứ lai căng của nước ngoài, thì việc xây dựng những tác phẩm điện ảnh mang đậm bản sắc dân tộc chỉ còn là vấn đề quan tâm của những nghệ sĩ tự trọng.

Trong khi bản sắc riêng mới là cái quan trọng đối với nghệ sĩ và đóng góp vào bản sắc chung của điện ảnh Việt Nam. Với người nghệ sĩ lớn, bản sắc dân tộc nằm trong tư tưởng, tâm hồn mỗi người nghệ sĩ và chỉ có thể ở những tác phẩm chạm được tới thân phận của dân tộc, thông qua những số phận những con người cụ thể. Thiếu vắng điều đó, phim sẽ dần rơi vào quên lãng.

Đạo diễn Vũ Xuân Hưng thẳng thắn: Những năm gần đây, nhiều phim truyện Việt Nam tập trung vào nội dung xa lạ với những vấn đề cốt lõi, riêng biệt của con người và đất nước Việt Nam. Tính cách, số phận, tâm tư, tình cảm và hành động của nhân vật mờ nhạt hoặc bị áp đặt, vì vay mượn của điện ảnh nước ngoài. Hình thức phim cũng không phù hợp với cách cảm, cách nghĩ, biểu hiện của văn hóa và con người Việt Nam.

Điều này làm cho tính dân tộc trong phim sai lạc, hoặc mất hẳn. Vì thế, theo đạo diễn Vũ Xuân Hưng, để ngăn chặn hiện tượng này, phải tạo điều kiện cho các phim giàu bản sắc dân tộc xuất hiện ngày một nhiều và đến với công chúng thuận lợi hơn, tạo điều kiện cho các tác giả có trách nhiệm, năng lực và đam mê với đề tài giàu bản sắc, được thể hiện hết mình qua tác phẩm và đưa tác phẩm của họ đến rạp hiệu quả nhất.

Tính dân tộc trong phim truyện Việt Nam còn được thể hiện ở âm nhạc. Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam chia sẻ: Âm nhạc trong phim Việt Nam từng có nhiều thành công như “Bao giờ cho đến tháng mười”, “Hà Nội mùa chim làm tổ”, “Chuyện của Pao”, “Cây bạch đàn vô danh”… bởi các nhạc sĩ đã khai thác chất liệu dân gian để tạo nên tiếng nói đồng cảm với nhân vật. Nhưng gần đây, việc sáng tác nhạc cho phim lại có nhiều lo ngại: Khi còn phim đen trắng thì có cả một dàn giao hưởng hỗ trợ, còn nay phim màu với sự hỗ trợ của công nghệ hiện đại thì âm nhạc cho phim lại sử dụng nhạc cụ điện tử.

Âm nhạc chưa tốt và không đặc sắc là một trong những lý do khiến phim Việt Nam dự thi các giải thế giới luôn bị loại. Ở Việt Nam chưa có nhạc sĩ nào được đào tạo bài bản về viết nhạc phim, nên cần chuyên môn hóa những người làm nhạc phim; đào tạo đội ngũ kế cận được trang bị kiến thức âm nhạc và hiểu biết sâu sắc.

TS Vũ Ngọc Thanh cho rằng, trang phục giúp người xem định hình về nhân vật và vùng đất, góp phần khắc họa tính cách nhân vật như nhiều bộ phim đã tạo được ấn tượng nghề nghiệp. Song, cũng có những phim điện ảnh được đầu tư lớn như “Hoa ban đỏ”, “Ký ức Điện Biên”, “Đừng đốt” lại khiến người xem thất vọng vì thiếu chân thực khi các anh bộ đội đang chiến đấu trên chiến trường với trang phục còn nguyên nếp gấp, không hề có dấu vết của khói lửa, chiến tranh.

Hơn 30 năm trước, khi giới thiệu điện ảnh Việt Nam ra thế giới, nhà phê bình điện ảnh nổi tiếng người Pháp Geoges Sadoul đã viết: “Đó là một nền điện ảnh nằm trên bán đảo Đông Dương, nhưng không phải là Ấn Độ, cũng không phải là Trung Quốc”, để nhấn mạnh nét đặc trưng của điện ảnh Việt Nam là bản sắc dân tộc. Chúng ta cần phải tự hào về điều này, mới gìn giữ và phát huy những giá trị đích thực trong điện ảnh Việt. Bởi “Hãy đi đến tận cùng của cái ta, ta sẽ gặp được nhân loại” (nhà văn Nguyễn Minh Châu)

Thanh Hằng
.
.
.